phần Mở đầu, Kết luận, luận văn gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Những cơ sở lý luận chung về hoạt động tại khu kinh tế cửa khẩu biên giới Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng hoạt động tại các khu kinh tế cửa khẩu tỉnh Tây Ninh Chƣơng 4: Một số giải pháp nhằm tiếp tục phát triển các khu kinh tế cửa khẩu tỉnh Tây Ninh 4 (LUAN.Ninh TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.Ninh CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG CỦA KHU KINH TẾ CỬA KHẨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Sau hơn 20 năm hình thành và phát triển, các khu kinh tế cửa khẩu ở Việt Nam đã có những đóng góp quan trọng vào việc thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế - xã hội của đất nƣớc. Đồng thời, các khu kinh tế cửa khẩu cũng đã góp phần quan trọng vào củng cố quan hệ hữu nghị truyền thống và hợp tác toàn diện giữa Việt Nam với các nƣớc có chung đƣờng biên giới.
Cùng với việc đánh giá kết quả đạt đƣợc trong quá trình phát triển các khu kinh tế cửa khẩu, bài viết chỉ ra những vấn đề còn tồn tại, hạn chế và đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh phát triển khu kinh tế cửa khẩu thời gian tới. Nội dung tổng quan 1.Các công trình nghiên cứu trên góc độ lý luận về khu kinh tế cửa khẩu Luận án tiến sỹ của Đặng Xuân Phong (2012) với đề tài “Phát triển khu kinh tế cửa khẩu biên giới phía Bắc Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế”: Luận án chỉ ra rằng phát triển khu kinh tế cửa khẩu biên giới là hoạt động nhằm phát triển không gian lãnh thổ kinh tế - xã hội của khu vực cửa khẩu biên giới, dựa trên hoạt động nòng cốt là giao lƣu kinh tế biên giới qua cửa khẩu, đƣợc đảm bảo bằng các cơ chế, chính sách, phƣơng thức tổ chức, quản lý đặc thù, phù hợp với vùng biên giới. Nghiên cứu tình hình cụ thể các cửa khẩu biên giới phía Bắc Việt Nam, tiếp giáp với Trung Quốc, luận án đã xây dựng khung khổ lý luận, phân tích nội dung phát triển khu kinh tế cửa khẩu biên giới với hai bộ phận cấu thành cơ bản là: (1) Phát triển không gian lãnh thổ kinh tế và dân cƣ tại khu kinh tế cửa khẩu biên giới và (2) Phát triển giao lƣu kinh tế qua cửa khẩu biên giới. Luận án đã xây dựng 3 nhóm chỉ tiêu đánh giá sự phát triển khu kinh tế cửa khẩu biên giới là: (1) Các chỉ tiêu phản ánh không gian lãnh thổ về kinh tế; (2) Các chỉ tiêu phản ánh xã hội tại khu kinh tế cửa khẩu và (3) Các chỉ tiêu về phát triển kinh tế tại khu kinh tế cửa khẩu.Ninh TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.Ninh Các công trình nghiên cứu và bài báo trƣớc đây đều khẳng định vai trò quan trọng của các KKTCK đối với phát triển kinh tế của Việt Nam.
Tác giả Phạm Văn Linh (2000) trong bài Các khu kinh tế cửa khẩu biên giới Việt – Trung và tác động của nó tới sự phát triển kinh tế hàng hóa ở Việt Nam, cho rằng KKTCK có khả năng tác động tích cực, lan toả trên các các vùng kinh tế lân cận, là một trong những biện pháp để thực hiện tốt hơn việc bảo vệ chủ quyền an ninh quốc gia và an ninh biên giới. KKTCK có thể coi là những chiếc cầu nối giữa thị trƣờng trong nƣớc và thị trƣờng quốc tế, là cửa ngõ để thông thƣơng kinh tế của đất nƣớc với các nƣớc láng giềng và quốc tế. Theo VOER (2001) và Nguyễn Đăng Ninh (2004), các KKTCK đóng vai trò quan trọng không chỉ đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân, mà còn tạo điều kiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các địa phƣơng theo hƣớng phát triển các ngành thƣơng mại, dịch vụ, du lịch, công nghiệp, hỗ trợ phát triển đối với dịch vụ trong nƣớc thông qua đẩy mạnh giao lƣu kinh tế đối với nƣớc láng giếng. Bên cạnh đó, KKTCK còn góp phần đẩy mạnh quá trình CNH, HĐH đất nƣớc, hƣớng tới mục tiêu nâng cao phúc lợi xã hội cho con ngƣời, tạo công ăn việc làm và góp phần tăng thêm tiềm lực quốc phòng tại biên giới.
KKTCK cũng giúp tăng thu hút vốn đầu tƣ cả trong nƣớc và nƣớc ngoài, đóng góp to lớn vào Ngân sách Nhà nƣớc (Phan Mạnh Hùng, 2015). Hoạt động giao lƣu kinh tế qua cửa khẩu mang lại lợi ích kinh tế đáng kể thông qua đẩy mạnh các hoạt động thƣơng mại qua biên giới đồng thời cũng để thực hiện chủ trƣơng cải cách kinh tế của Đảng là khẳng định nguyên tắc độc lập, chủ quyền, bình đẳng và cùng có lợi trong phát triển kinh tế đối ngoại; đa phƣơng hóa, đa dạng hóa các hoạt động kinh tế đối ngoại; khai thác có hiệu quả lợi thế trong phân công lao động quốc tế (Nguyễn Thị Kim Dung, 1999). Các công trình nghiên cứu về sự phát triển của các khu kinh tế cửa khẩu trên thế giới (1) Xianming Yang, Zanxin Wang, Ying Chen, and Fan Yuan (2011), trong “Factors Aff ecting Firm-Level Investment and Performance in Border Economic Zones and Implications for Developing Cross-Border Economic Zones between the People’s Republic of China and its Neighboring GMS Countries”;cho thấy việc 6 (LUAN.Ninh TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.Ninh thành lập các khu hợp tác kinh tế qua biên giới (CBEZs) ở khu vực biên giới TQ với các nƣớc láng giềng ở Tiểu vùng Mekong mở rộng (GMS) là một chiến lƣợc nhằm thúc đẩy thƣơng mại và đầu tƣ trong tiểu vùng. Bài viết cũng cho thấy sự khác biệt giữa BEZ và CBEZ vì CBEZ là một khu kinh tế xuyên quốc gia, do đó cần phải có một bộ các chính sách đồng nhất cũng nhƣ các hỗ trợ trong khu vực nhƣ tài chính, thuế, đầu tƣ, thƣơng mại và quy chế hải quan.
CBEZ đƣợc khởi xƣớng đầu tiên cho khu vực Hà Khẩu-Lào Cai dọc biên giới hành lang kinh tế Bắc - Nam liên quan đến tỉnh Vân Nam, Trung Quốc, và tỉnh Lào Cai ở Việt Nam. Theo các tác giả, việc thiết kế các gói ƣu đãi trong CBEZ là một thách thức lớn cho các nhà hoạch định chính sách cả hai bên. Nhằm hỗ trợ việc thiết kế các chính sách ƣu đãi trong CBEZs, nghiên cứu này đã nghiên cứu BEZs ở khu vực biên giới đƣợc lựa chọn ở tỉnh Vân Nam, và tại tỉnh Lào Cai, với mục đích đánh giá (i) các yếu tố thu hút đầu tƣ vào các khu vực, và (ii) tác động của các chính sách ƣu đãi đầu tƣ tới hiệu quả của các doanh nghiệp trong khu vực. Sử dụng ba loại động cơ đầu tƣ (tìm kiếm thị trƣờng, tìm kiếm nguồn lực và tìm kiếm hiệu quả) làm biến nhƣ phụ thuộc, và áp dụng các phân tích tham số và phân tích phi tham số, nghiên cứu đã xác định các biến chính có ảnh hƣởng đến quyết định địa điểm của doanh nghiệp và các số liệu đầu tƣ.Yao Lu and Shirley Zhang, Dezan Shira & Associates (2013), trong Development Zones in China; cho thấy việc phát triển các khu vực phát triển ở Trung Quốc đƣợc thực hiện bằng các loại hình khác nhau, đó là: (i) Khu vực Kinh tế Đặc biệt (SEZs).
Hiện nay có 6 SEZs ở Trung Quốc, khu vực đầu tiên đƣợc thành lập từ năm 1980 ở Thâm Quyến. Khu phát triển kinh tế và công nghệ (ETDZs), đƣợc thành lập nhằm phát triển các ngành công nghiệp công nghệ và nhận đƣợc các ƣu đãi nhƣ tài trợ của chính phủ vào các ngành công nghiệp mới nổi. Khu phát triển công nghệ cao (HTDZs) là khu vực đặc biệt hƣớng tới việc thƣơng mại hóa các nghiên cứu và phát triển cũng nhƣ khuyến khích các ngành công nghiệp công nghệ bao gồm IT, điện tử, dƣợc phẩm và vật liệu mới. Khu vực thƣơng mại tự do (FTZs): FTZs đƣợc thành lập nhằm khuyến khích chế xuất hàng xuất khẩu, 7 (LUAN.Ninh TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.Ninh thƣơng mại quốc tế và các hoạt động ngoại quan.
Khu chế xuất (EPZs), thƣờng nằm trong một khu phát triển có sẵn với mục đích chế xuất hàng xuất khẩu. Ƣu điểm chính của EPZs là việc miễn trừ thuế xuất khẩu, nhập khẩu và hoàn thuế VAT, thủ tục hải quan và trao đổi ngoại hối dễ dàng hơn và không có giới hạn hạn ngạch. Khu vực ngoại quan logistics (BLZs), thƣờng đƣợc thành lập gần cảng và sân bay nhằm khuyến khích việc vận chuyển hàng hóa. Khu vực kinh tế xuyên biên giới (CBEZs): CBEZs đƣợc thành lập nhằm thúc đẩy thƣơng mại và các ngành công nghiệp chế xuất tại vùng biên giới.
Khu vực này thƣờng đƣợc xây dựng dựa trên sự hợp tác và khuyến khích giữa Trung Quốc và các nƣớc láng giềng. Khu vực này có chính sách thuế quan và thếu ƣu đãi nhƣ hoàn thuế VAT đối với các hoạt động tái đầu tƣ. Các công trình nghiên cứu về các khu kinh tế cửa khẩu của Việt Nam Đây là đề tài nghiên cứu cấp bộ, của Bộ thƣơng mại: Một số chính sách và giải pháp chủ yếu cấp bách nhằm phát triển quan hệ thương mại khu vực biên giới Việt – Trung, đã tập trung đi sâu nghiên cứu thực trạng các hoạt động thƣơng mại tại khu vực biên giới Việt – Trung, đánh giá hệ thống chính sách mậu dịch biên giới của Trung Quốc và ảnh hƣởng của nó tới môi trƣờng thƣơng mại khu vực biên giới Việt –Trung; trên cơ sở đó đã đƣa ra các quan điểm và đề xuất các giải pháp chủ yếu để thúc đẩy sự phát triển thƣơng mại khu vực biên giới Việt - Trung. - Phương hướng phát triển kinh tế cửa khẩu biên giới Việt – Trung trong giai đoạn tới, trên Tạp chí Thông tin Kinh tế - Xã hội, số 1 năm 2003.
Bài viết đã xác định vị trí, vai trò của một số cửa khẩu quốc tế trên tuyến biên giới Việt -Trung và đƣa ra một số ƣu tiên trong định hƣớng phát triển KTCK trong thời gian tới. - Phát triển thương mại trên hành lang kinh tế Côn Minh – Lào Cai – HàNội – Hải Phòng của TS. Nguyễn Văn Lịch, Nxb. Thống kê, Hà Nội năm2005, đã đi sâu phân tích và làm rõ những luận cứ khoa học của việc xâydựng hành lang kinh tế Côn Minh – Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng; đánh giáthực trạng phát triển thƣơng mại trên hành lang kinh tế Côn Minh – Lào Cai –Hà Nội – Hải Phòng; phân tích tác động của hành lang kinh tế đối với việc hình thành khu vực mậu dịch tự do ASEAN 8 (LUAN.Ninh TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.Ninh – Trung Quốc và đƣa ra các giải pháp thúc đẩy phát triển thƣơng mại khu vực hành lang kinh tế Côn Minh –Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng.