Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Nghiên cứu hiện trạng phát triển các khu công nghiệp tại TP. Biên Hòa - Đồng Nai" do sinh viên Nguyễn Thị Tươi thực hiện dưới sự hướng dẫn của Th.S Nguyễn Thị Bình (Khoa Địa lí, Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh, năm 2012). Đề tài thuộc chuyên ngành Địa lí kinh tế - xã hội, tập trung vào địa bàn thành phố Biên Hòa trong giai đoạn công nghiệp hóa - hiện đại hóa nhanh chóng của vùng Đông Nam Bộ.

Lý do chọn đề tài xuất phát trực tiếp từ các định hướng phát triển kinh tế của địa phương. Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Đồng Nai lần thứ IX đã xác định mục tiêu đưa Đồng Nai cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa vào năm 2015. Trong giai đoạn 2001 - 2010, Đảng bộ tỉnh xác định công nghiệp hóa, hiện đại hóa là nhiệm vụ trung tâm, và nhiệm vụ tiếp tục hoàn thiện, phát triển các khu công nghiệp (KCN), khu chế xuất (KCX), khu công nghệ cao được đặt ra trọng tâm cho giai đoạn 2010 - 2015. Tính đến thời điểm nghiên cứu, toàn tỉnh Đồng Nai đã có 30 KCN được thành lập với tổng diện tích 9.574,69 ha. Riêng tại thành phố Biên Hòa, 6 KCN tập trung đã được thành lập với tổng diện tích đất tự nhiên 1.679,01 ha, trong đó diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê đạt gần 1.165,31 ha (chiếm 69,40% tổng diện tích đất tự nhiên).

Mặc dù phần lớn các KCN đã đi vào hoạt động và đóng góp đáng kể vào tăng trưởng kinh tế, thực tiễn đã bộc lộ nhiều mâu thuẫn và hạn chế trong công tác quy hoạch, đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật, quản lý nhà nước và khai thác quỹ đất. Sự quá tải về mặt bằng, áp lực lên môi trường tự nhiên và an sinh xã hội đòi hỏi phải có những đánh giá khoa học cụ thể. Trong khi các công trình nghiên cứu trước đó chủ yếu xem xét KCN ở phạm vi toàn quốc hoặc toàn tỉnh Đồng Nai, chưa có công trình chuyên biệt nào đi sâu phân tích toàn diện hiện trạng KCN trên địa bàn thành phố Biên Hòa.

Mục đích nghiên cứu của đề tài là đánh giá tổng hợp các nguồn lực ảnh hưởng đến các KCN ở thành phố Biên Hòa và thực trạng phát triển của các KCN này; từ đó chứng minh KCN là hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp phổ biến và hiệu quả nhất tại địa phương, đồng thời phát hiện những vấn đề cấp bách cần giải quyết.

Để đạt được mục đích trên, tác giả xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu chính:

  1. Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến việc phát triển các KCN ở Biên Hòa; rút ra những đánh giá về lợi thế cần khai thác và hạn chế cần khắc phục nhằm đạt hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất nhưng vẫn đảm bảo phát triển bền vững và bảo vệ môi trường.
  2. Tìm hiểu và phân tích hiện trạng phát triển ngành công nghiệp và các KCN tại thành phố Biên Hòa trong giai đoạn 2005 - 2010.
  3. Đề ra phương hướng phát triển ngành công nghiệp Biên Hòa và các giải pháp đối với vấn đề phát triển các KCN của thành phố trong thời gian tới.

Giới hạn và phạm vi nghiên cứu được quy định cụ thể:

  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu trên toàn bộ lãnh thổ thành phố Biên Hòa, đặt trong mối liên hệ không gian với các địa phương khác trong tỉnh Đồng Nai và Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.
  • Phạm vi thời gian: Tập trung phân tích các chuỗi số liệu thống kê giai đoạn 2005 - 2010 (có cập nhật các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật đến cuối năm 2011 và đầu năm 2012).
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào quy mô lãnh thổ, lao động, doanh thu và sự phân bố không gian của các KCN trên địa bàn thành phố Biên Hòa.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận thiết lập hệ thống khái niệm và cơ sở lý luận dựa trên việc so sánh lý thuyết tổ chức lãnh thổ công nghiệp truyền thống và thực tiễn pháp lý tại Việt Nam. Tác giả đối chiếu quan niệm về KCN của các nhà khoa học Liên Xô (như Xêmênôv, 1981, và các học giả Đại học Tổng hợp Mát-xcơ-va, Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô — coi KCN là sự kết hợp lãnh thổ của nhiều trung tâm công nghiệp lớn có quan hệ kinh tế - kỹ thuật nội tại) với định nghĩa pháp lý KCN tại Việt Nam. Cơ sở pháp lý được trích dẫn bao gồm:

  • Nghị định số 192/CP ngày 25 tháng 12 năm 1994 của Chính phủ ban hành Quy chế Khu công nghiệp.
  • Nghị định số 36/CP ngày 24 tháng 4 năm 1997 của Chính phủ ban hành Quy chế Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu công nghệ cao. Theo đó, KCN được xác định là khu tập trung các doanh nghiệp công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống, do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập.

Tác giả đưa ra các tiêu chí phân loại KCN theo: vị trí địa lý; tính chất chuyên môn hóa và cơ cấu sản xuất (chuyên môn hóa, tổng hợp, khu chế xuất); trình độ công nghệ; và đặc biệt là quy mô diện tích:

  • KCN quy mô lớn: trên 300 ha.
  • KCN quy mô vừa: từ 150 đến 300 ha.
  • KCN quy mô nhỏ: dưới 150 ha.

Khóa luận chỉ ra một hạn chế cố hữu trong thực tiễn phát triển KCN tại Việt Nam: các KCN thường vận hành tương tự một "công viên công nghiệp" đơn thuần nhằm thu hút vốn lấp đầy diện tích đất, thiếu tính liên kết kỹ thuật giữa các nhà máy; các trạm xử lý chất thải tập trung thường chỉ được xây dựng khi tỷ lệ lấp đầy đạt từ 40% diện tích cho thuê trở lên.

Về mặt tiếp cận và phương pháp luận, tác giả vận dụng 4 quan điểm nghiên cứu cốt lõi của Địa lí học:

  • Quan điểm tổng hợp lãnh thổ: Xem xét sự gắn kết hữu cơ giữa các yếu tố tự nhiên và kinh tế - xã hội, phân chia tiểu vùng nghiên cứu theo mức độ tập trung công nghiệp.
  • Quan điểm hệ thống: Đặt KCN trong hệ thống phân hệ kinh tế đô thị và mối quan hệ với các ngành kinh tế khác.
  • Quan điểm sinh thái và phát triển bền vững: Đánh giá quá trình sản xuất công nghiệp trong mối liên hệ với việc bảo vệ môi trường sống.
  • Quan điểm lịch sử viễn cảnh: Phân tích quá trình hình thành công nghiệp qua các thời kỳ để dự báo và định hướng phát triển tương lai.

Hệ thống phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm:

  • Phương pháp thực địa: Khảo sát thực tế tại các KCN, đối chiếu tư liệu thứ cấp với hiện trường để đảm bảo tính xác thực.
  • Phương pháp tổng hợp, thống kê, phân tích, so sánh: Xử lý chuỗi số liệu kinh tế, cơ cấu ngành, thành phần kinh tế và quy mô hạ tầng kỹ thuật.
  • Phương pháp bản đồ - biểu đồ: Trực quan hóa hiện trạng phân bố không gian và động thái tăng trưởng công nghiệp.

Nguồn dữ liệu của khóa luận được thu thập chính thức từ: Chi cục Thống kê thành phố Biên Hòa (số liệu tháng 3 và tháng 4 năm 2012); Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Đồng Nai; Sở Công nghiệp (nay là Sở Công Thương); Phòng Khoa học Công nghệ và Môi trường; Ban Quản lý các KCN tỉnh Đồng Nai; UBND tỉnh Đồng Nai và UBND thành phố Biên Hòa; cùng Báo cáo tổng kết 20 năm phát triển KCN, KCX tại Việt Nam của Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn nghiên cứu khu công nghiệp

Chương này trình bày hệ thống hóa lý luận về tổ chức lãnh thổ công nghiệp và đánh giá thực trạng phát triển KCN ở quy mô quốc gia và cấp tỉnh tính đến cuối năm 2011.

Về cơ sở lý luận, chương phân tích 5 nhóm nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức lãnh thổ KCN: vị trí địa lý; tài nguyên thiên nhiên (khoáng sản, tài nguyên nước, khí hậu, đất đai, sinh vật); dân cư và nguồn lao động; cơ sở hạ tầng - vật chất kỹ thuật; thị trường và đường lối, chính sách phát triển kinh tế - xã hội.

Về cơ sở thực tiễn cả nước: Tính đến tháng 12 năm 2011, Việt Nam có 283 KCN với tổng diện tích 76.000 ha, diện tích đất cho thuê đạt 46.000 ha; quy mô diện tích trung bình là 268 ha/KCN (vùng Đông Nam Bộ có quy mô trung bình cao nhất đạt 378,3 ha; vùng Trung du và miền núi phía Bắc thấp nhất đạt 154,6 ha). Đã có 180 KCN đi vào vận hành và 103 KCN đang giải phóng mặt bằng. Khu vực KCN, KCX thu hút 4.113 dự án FDI còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 59,6 tỷ USD, vốn thực hiện 27 tỷ USD (bằng 45% vốn đăng ký). Khối doanh nghiệp trong nước có 4.681 dự án với vốn đăng ký gần 420.000 tỷ đồng, vốn thực hiện đạt 210.000 tỷ đồng (50%). Tỷ lệ lấp đầy KCN tăng từ 40% (năm 1996) lên 55% (năm 2001) và 65% (năm 2010). Hiệu suất kinh tế tính trên 1 ha đất công nghiệp cho thuê năm 2011 đạt: giá trị sản xuất công nghiệp 2 triệu USD/ha, giá trị xuất khẩu 1,27 triệu USD/ha, nộp ngân sách 1,38 tỷ đồng/ha và giải quyết việc làm cho 77 lao động trực tiếp.

Về thực tiễn tỉnh Đồng Nai: Địa phương dẫn đầu cả nước về KCN. Quy hoạch tổng thể gồm 34 KCN; đến năm 2011 đã cấp phép thành lập 30 KCN với quy mô trung bình 319 ha. Thu hút 779 dự án FDI còn hiệu lực với vốn đăng ký 12,7 tỷ USD, vốn thực hiện 7,4 tỷ USD (đạt 58,26%). Diện tích đất công nghiệp cho thuê đang vận hành là 4.983,36 ha, đã cho thuê 3.818,84 ha, đạt tỷ lệ lấp đầy khoảng 76%. Toàn bộ 30 KCN huy động 524,67 triệu USD và 6.045,31 tỷ đồng vốn xây dựng hạ tầng (24 KCN đi vào hoạt động có vốn thực hiện đạt gần 100,43 triệu USD và 3.741,27 tỷ đồng). Về môi trường, 20/22 KCN đang hoạt động đã xây dựng xong nhà máy xử lý nước thải tập trung với tổng công suất 81.000 m³/ngày đêm (18 trạm chạy ổn định, 2 trạm chờ nước thải chạy thử; 2 KCN còn lại vướng bồi thường mặt bằng). Tổng số lao động tại 30 KCN đạt 410.387 người, trong đó trên 158.000 lao động nhập cư có nhu cầu bức thiết về nhà ở.

Chương 2: Các nhân tố ảnh hưởng và thực trạng phát triển các khu công nghiệp tại TP. Biên Hòa - tỉnh Đồng Nai

Chương 2 là phần nội dung trọng tâm của khóa luận, đi sâu vào thực trạng thành phố Biên Hòa trên hai khía cạnh: các nguồn lực phát triển và kết quả tăng trưởng công nghiệp giai đoạn 2005 - 2010.

Các nhân tố ảnh hưởng tại địa phương:

  • Vị trí địa lý và quy mô dân số: Thành phố Biên Hòa có diện tích tự nhiên 264 km², cách trung tâm TP. Hồ Chí Minh 30 km và TP. Vũng Tàu 90 km. Dân số năm 2010 đạt khoảng 784.000 người, mật độ 2.969 người/km² (thành phố trực thuộc tỉnh đông dân nhất cả nước, mật độ cao thứ ba Việt Nam sau Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh).
  • Điều kiện tự nhiên: Nguồn nước mặt dồi dào từ sông Đồng Nai có lưu lượng cực đại 880 m³/s, cực tiểu 130 m³/s; trữ lượng nước ngầm khai thác đạt 10.000 m³/ngày. Khoáng sản gồm có Laterit tại Long Bình (diện tích 3 km², dày 1 - 3 m) và Hố Nai (3 km², dày 3 - 5 m); Kaolin tại Nghĩa trang thành phố (hàm lượng 20 - 40%) và Tân Mai (50 - 60%); đất sét sản xuất gạch tại xã Hóa An (trữ lượng khoảng 6 triệu m³); than bùn lẫn sét tại Hóa An. Cơ cấu đất đai: đất nông nghiệp chiếm 8.390 ha (31,39%), đất phi nông nghiệp chiếm 18.082,41 ha (68,61%); diện tích rừng trồng đạt trên 600 ha (chủ yếu là tràm bông vàng ở Trảng Dài).
  • Cơ sở hạ tầng kỹ thuật: Giao thông đa dạng gồm QL1A (đoạn cũ 13,45 km), Xa lộ Hà Nội (10 km), QL1K (5,06 km), QL51 (5,2 km), QL15/đường Phạm Văn Thuận (5,4 km), ĐT 760 (9,22 km), Tỉnh lộ 24 (5 km); dự án cầu Đồng Nai mới hoàn thành cuối năm 2009 (xây cách cầu cũ 3 m về phía thượng lưu) với tổng mức đầu tư trên 1.800 tỷ đồng; Cảng Long Bình Tân (công suất 460.000 tấn/năm cho tàu 2.000 GRT), Cảng Gò Dầu A & B trên sông Thị Vải, cảng nội bộ Cogido (200 - 300 tấn/ngày); tuyến đường sắt Bắc - Nam qua nội thành dài 17 km. Hệ thống cấp điện nhận nguồn từ trạm Long Bình 220/110 kV và trạm Sài Gòn 230/66/11 kV với tổng công suất 418 MVA. Cấp nước đô thị đạt công suất 73.000 m³/ngày đêm (nhà máy Long Bình 15.000 m³/ngày đêm, trạm Hóa An 6.000 m³/ngày đêm), lượng nước máy khai thác đạt 19,1 triệu m³ vào năm 2000. Viễn thông đạt mật độ 34 máy/100 dân vào năm 2004 - 2005.

Thực trạng tăng trưởng và cơ cấu công nghiệp thành phố Biên Hòa giai đoạn 2005 - 2010:

  • Tăng trưởng GDP công nghiệp (giá so sánh 1994): Tăng trưởng bình quân đạt 15,1%/năm giai đoạn 2005 - 2010 và đạt 16,1%/năm giai đoạn 2007 - 2010. Tỷ trọng GDP công nghiệp Biên Hòa so với toàn tỉnh có xu hướng giảm dần: chiếm 62,62% (năm 2005), 61,82% (năm 2007) và 60,0% (năm 2010), do sự phân tán công nghiệp mạnh mẽ sang Long Thành, Nhơn Trạch, Trảng Bom.
  • Giá trị sản xuất công nghiệp (GTSXCN): Năm 2010 đạt 60.716,426 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng GTSXCN bình quân đạt 17,1%/năm (giai đoạn 2007 - 2010 tăng 17,4%/năm). Tỷ trọng GTSXCN Biên Hòa so với toàn tỉnh giảm từ 62,45% (năm 2007) xuống còn 59,22% (năm 2010).

Bảng tổng hợp GTSXCN của TP. Biên Hòa phân theo thành phần kinh tế giai đoạn 2005 - 2010:

Thành phần kinh tế GTSXCN năm 2005 (Tỷ đồng) Tỷ trọng năm 2005 (%) GTSXCN năm 2010 (Tỷ đồng) Tỷ trọng năm 2010 (%) Tốc độ tăng bình quân 2005 - 2010 (%/năm)
Khu vực Nhà nước ~5.700 19,9 >11.000 18,1 10,3
Khu vực Ngoài quốc doanh 4.400 15,35 >10.000 17,5 18,9
Khu vực FDI 15.000 55,93 >39.000 64,39 >18,0
Tổng cộng toàn TP 28.600 100,0 60.716,426 100,0 17,1

Khu vực Nhà nước tăng trưởng thấp nhất (10,3%/năm) do đẩy mạnh cổ phần hóa, chỉ duy trì chiều sâu tại các đơn vị lớn như Công ty Cà phê Biên Hòa, Nhà máy Hóa chất Biên Hòa, Khai thác đá Hóa An, Bột giặt Net, Sacom, Vinappro. Khu vực ngoài quốc doanh mở rộng mạnh nhờ các doanh nghiệp cổ phần hóa như Bánh kẹo Biên Hòa, Đường Biên Hòa, Sơn Đồng Nai. Khu vực FDI giữ vai trò chủ đạo, tỷ trọng tăng từ 55,93% lên 64,39%.

Về cơ cấu nội bộ ngành, năm 2010 toàn thành phố có 9 nhóm ngành công nghiệp, trong đó 5 nhóm ngành chủ lực chiếm trên 85% tổng GTSXCN:

TT Nhóm ngành công nghiệp chủ yếu Tỷ trọng trong tổng GTSXCN năm 2010 (%) Tốc độ tăng trưởng bình quân 2005 - 2010
1 Công nghiệp chế biến nông sản, thực phẩm 30,80 Tăng nhanh (18 - 19%/năm)
2 Công nghiệp điện - điện tử 18,10 Tăng trưởng ổn định
3 Công nghiệp dệt, may và giày dép 16,90 Tăng trưởng ổn định
4 Công nghiệp hóa chất, cao su, plastic 10,53 Tăng nhanh (18 - 19%/năm)
5 Công nghiệp cơ khí ~9,00 Tăng nhanh (18 - 19%/năm)
- Công nghiệp chế biến gỗ Nhỏ Tăng cao nhất (26,7%/năm, do điểm xuất phát thấp)

Chương 3: Định hướng và một số giải pháp đối với vấn đề phát triển các khu công nghiệp tại TP. Biên Hòa

Chương 3 xây dựng các định hướng phát triển công nghiệp đến năm 2015, có tính đến năm 2020 dựa trên Nghị quyết Đảng bộ thành phố và các quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Đồng Nai. Mục tiêu chính là chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ phát triển theo chiều rộng sang chiều sâu, lựa chọn các ngành công nghệ cao, ít gây ô nhiễm môi trường và sử dụng ít quỹ đất.

Các nhóm giải pháp được khóa luận đề xuất bao gồm:

  • Nhóm giải pháp vĩ mô: Hoàn thiện quy hoạch phân bố không gian công nghiệp hài hòa giữa Biên Hòa với các cực tăng trưởng mới (Long Thành, Nhơn Trạch); kiện toàn khung pháp lý và cơ chế quản lý "một cửa, tại chỗ" tại Ban Quản lý KCN; kiểm soát chặt chẽ việc thẩm định công nghệ và đánh giá tác động môi trường của các dự án cấp mới.
  • Nhóm giải pháp cụ thể:
    1. Nâng cấp đồng bộ hạ tầng kỹ thuật: Mở rộng các trục giao thông đối ngoại, cải tạo hệ thống thoát nước mưa và nước thải riêng biệt.
    2. Bắt buộc xây dựng và vận hành nhà máy xử lý nước thải tập trung đạt chuẩn trước khi lấp đầy KCN, khắc phục nguy cơ gây ô nhiễm hệ thống lưu vực sông Đồng Nai.
    3. Lập quy hoạch và triển khai các dự án nhà ở công nhân, thiết chế văn hóa, dịch vụ xã hội gắn liền với khu vực có mật độ lao động nhập cư cao.
    4. Đẩy mạnh liên kết kỹ thuật và sản xuất giữa các doanh nghiệp nội bộ KCN, chuyển dịch mô hình tổ chức KCN thoát khỏi tính chất "công viên công nghiệp" thuần túy.

Kết quả và đóng góp

Về kết quả nghiên cứu định lượng, khóa luận đã trích xuất và tổng hợp được bức tranh toàn diện về hệ thống công nghiệp thành phố Biên Hòa thông qua chuỗi số liệu thực tế:

  • Xác định quy mô 6 KCN thành phố Biên Hòa với tổng diện tích đất tự nhiên 1.679,01 ha và đất cho thuê 1.165,31 ha (đạt tỷ lệ diện tích cho thuê 69,40%).
  • Đánh giá quy mô kinh tế của công nghiệp Biên Hòa năm 2010 với GTSXCN đạt 60.716,426 tỷ đồng, đóng góp 59,22% GTSXCN và 60,0% GDP công nghiệp toàn tỉnh Đồng Nai.
  • Làm rõ bước chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế với sự thống trị của khu vực FDI (chiếm 64,39% GTSXCN năm 2010) và sự vươn lên của khu vực ngoài quốc doanh (đạt tốc độ tăng trưởng 18,9%/năm).
  • Định lượng hóa cơ cấu 9 nhóm ngành công nghiệp, chứng minh tính chuyên môn hóa cao của Biên Hòa khi 5 ngành trụ cột (chế biến nông sản thực phẩm, điện - điện tử, dệt may - giày dép, hóa chất, cơ khí) chiếm trên 85% giá trị toàn ngành.

Về mặt đóng góp học thuật và thực tiễn:

  • Khóa luận là công trình nghiên cứu địa lí kinh tế đầu tiên tập trung riêng biệt vào thực trạng hệ thống KCN trên địa bàn thành phố Biên Hòa ở thời điểm năm 2012, lấp khoảng trống tư liệu so với các công trình nghiên cứu KCN vốn chỉ nhìn ở tầm vĩ mô toàn tỉnh Đồng Nai hoặc toàn vùng Đông Nam Bộ.
  • Tác giả vận dụng thành công các quan điểm tổ chức lãnh thổ công nghiệp để phản ánh chân thực mặt trái của việc phát triển KCN nhanh: tình trạng thiếu vắng liên kết chuỗi sản xuất giữa các xí nghiệp, độ trễ trong xây dựng hạ tầng môi trường xử lý chất thải và áp lực an sinh xã hội đối với lao động nhập cư.
  • Cung cấp cơ sở khoa học và các số liệu xác thực phục vụ công tác quy hoạch, điều chỉnh cơ cấu đầu tư công nghiệp cho các cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tự xác định một số hạn chế do điều kiện thực hiện của tác giả:

  • Là công trình nghiên cứu khoa học đầu tay ở bậc đại học, nguồn tài liệu và thời gian tiếp cận thực địa của sinh viên còn hạn chế.
  • Dữ liệu nghiên cứu dừng lại ở mốc thời gian 2005 - 2010 (cập nhật đầu năm 2012), phản ánh giai đoạn trước khi diễn ra các đợt tái cấu trúc công nghiệp lớn.
  • Khóa luận chủ yếu tiếp cận theo số liệu thống kê nhóm ngành và quy mô chung của KCN, chưa có điều kiện khảo sát vi mô sâu tại từng nhà máy, từng phân xưởng bên trong các KCN.

Hướng nghiên cứu tiếp được gợi mở từ phạm vi đề tài:

  • Mở rộng phân tích chuyên sâu về vấn đề di dời và chuyển đổi công năng của KCN Biên Hòa 1 — KCN lâu đời nhất Việt Nam hình thành từ trước năm 1975, vốn nằm sát sông Đồng Nai và tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt của toàn vùng hạ lưu.
  • Khảo sát định lượng chuyên đề về đời sống, thu nhập, nhu cầu nhà ở và các thiết chế văn hóa cho hơn 158.000 lao động nhập cư tại các KCN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai và thành phố Biên Hòa.
  • Đánh giá hiệu quả mô hình quản lý môi trường và quan trắc nước thải tự động tại các KCN trong bối cảnh các quy chuẩn môi trường ngày càng khắt khe.

Giá trị tham khảo

Bản khóa luận có giá trị tham khảo học thuật và tư liệu đối với:

  • Giảng viên và sinh viên các chuyên ngành Địa lí kinh tế - xã hội, Quy hoạch đô thị và nông thôn, Kinh tế phát triển, Quản lý tài nguyên và môi trường: Tài liệu là mẫu hình nghiên cứu địa lí công nghiệp cấp đô thị, có phương pháp luận rõ ràng, quy trình phân tích nhân tố tự nhiên - kinh tế - hạ tầng chặt chẽ.
  • Cán bộ làm công tác quy hoạch, thống kê, xúc tiến đầu tư tại Đồng Nai và các đô thị công nghiệp: Nguồn tư liệu phản ánh chân thực số liệu lịch sử về hạ tầng giao thông, điện, nước và cơ cấu công nghiệp Biên Hòa giai đoạn 2005 - 2010.
  • Các phần đáng tham khảo nhất trong văn bản:
    1. Mục phân tích chi tiết cơ sở hạ tầng kỹ thuật thành phố Biên Hòa tại Chương 2 (các thông số kỹ thuật về mạng lưới điện trạm Long Bình, hệ thống cấp nước, công suất cầu cảng Long Bình Tân, giao thông đường sắt và đường thủy).
    2. Bảng số liệu thống kê và phân tích chuyển dịch cơ cấu GTSXCN phân theo thành phần kinh tế và 9 nhóm ngành công nghiệp giai đoạn 2005 - 2010.

Câu hỏi thường gặp

1. Tính đến năm 2010, thành phố Biên Hòa có bao nhiêu khu công nghiệp và diện tích đất công nghiệp cho thuê chiếm tỷ lệ bao nhiêu? Đến năm 2010, thành phố Biên Hòa có 6 KCN được thành lập với tổng diện tích đất tự nhiên là 1.679,01 ha. Trong đó, diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê đạt gần 1.165,31 ha, chiếm 69,40% tổng diện tích đất tự nhiên của các KCN này.

2. Tăng trưởng GTSXCN của thành phố Biên Hòa giai đoạn 2005 - 2010 đạt mức nào và vị thế của công nghiệp Biên Hòa trong toàn tỉnh Đồng Nai thay đổi ra sao? Giai đoạn 2005 - 2010, tốc độ tăng trưởng GTSXCN bình quân của TP. Biên Hòa đạt 17,1%/năm, đạt quy mô 60.716,426 tỷ đồng vào năm 2010. Về vị thế so với toàn tỉnh Đồng Nai, tỷ trọng GDP công nghiệp của Biên Hòa giảm từ 62,62% (năm 2005) xuống 60,0% (năm 2010); tỷ trọng GTSXCN giảm từ 62,45% (năm 2007) xuống 59,22% (năm 2010) do công nghiệp đang dịch chuyển mạnh sang các huyện lân cận như Long Thành, Nhơn Trạch, Trảng Bom.

3. Thành phần kinh tế nào giữ vai trò chủ lực trong cơ cấu công nghiệp thành phố Biên Hòa năm 2010? Khu vực kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) giữ vai trò chủ đạo tuyệt đối. Năm 2010, khu vực FDI đạt giá trị sản xuất trên 39.000 tỷ đồng, chiếm 64,39% tổng GTSXCN của thành phố Biên Hòa (tăng từ mức 55,93% của năm 2005), với tốc độ tăng trưởng ổn định trên 18%/năm.

4. Năm nhóm ngành công nghiệp nào đóng góp trên 85% giá trị sản xuất công nghiệp của thành phố Biên Hòa năm 2010? Năm nhóm ngành công nghiệp chủ lực gồm: (1) Công nghiệp chế biến nông sản, thực phẩm (chiếm 30,8%); (2) Công nghiệp điện - điện tử (chiếm 18,1%); (3) Công nghiệp dệt, may và giày dép (chiếm 16,9%); (4) Công nghiệp hóa chất, cao su, plastic (chiếm 10,53%); và (5) Công nghiệp cơ khí (chiếm khoảng 9,0%).

5. Tác giả phân loại quy mô các khu công nghiệp theo tiêu chí diện tích như thế nào? Khóa luận quy ước phân loại KCN theo 3 mức quy mô diện tích đất: KCN quy mô lớn là các khu có diện tích trên 300 ha; KCN quy mô vừa có diện tích từ 150 đến 300 ha; và KCN quy mô nhỏ có diện tích dưới 150 ha.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Tươi đã khái quát hóa một cách có hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn về mô hình khu công nghiệp tại Việt Nam và tỉnh Đồng Nai, đồng thời phản ánh chân thực bức tranh công nghiệp thành phố Biên Hòa giai đoạn 2005 - 2010 qua hệ thống số liệu thống kê địa phương đáng tin cậy. Nghiên cứu đã làm rõ vai trò động lực của 6 KCN, sự áp đảo của khu vực FDI cùng 5 ngành công nghiệp mũi nhọn, đồng thời chỉ ra xu hướng phân tán không gian công nghiệp của tỉnh Đồng Nai về phía các huyện lân cận. Đây là tài liệu khoa học hữu ích cho việc tìm hiểu lịch sử phát triển đô thị - công nghiệp Biên Hòa, cung cấp cơ sở dữ liệu quan trọng cho các nghiên cứu tiếp theo về chuyển dịch cơ cấu kinh tế và bảo vệ môi trường công nghiệp vùng Đông Nam Bộ.