MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài: Chính phủ Việt Nam bắt đầu thực hiện chính sách mở cửa vào năm 1986, chú trọng việc kêu gọi đầu tư nước ngoài bằng cách tạo ra môi trường pháp lý thông thoáng (Luật Đầu tư nước ngoài 1988) và xây dựng nền tảng hạ tầng đáp ứng yêu cầu hoạt động đầu tư. Năm 1991 khu chế xuất đầu tiên của Việt Nam ra đời. Từ đó, song hành với tốc độ gia tăng đầu tư nước ngoài cũng như trong nước, hàng loạt khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế và khu dân cư đã ra đời.
Việc đầu tư xây dựng các khu chế xuất, khu công nghiệp, khu kinh tế đã góp phần to lớn vào công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước. Trong đó cơ sở hạ tầng đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc thu hút đầu tư vào nền kinh tế quốc gia và chiếm một tỷ trọng vốn lớn trong ngành xây dựng. Muốn đạt hiệu quả tốt trong các dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng (bao gồm cả những dự án có vốn đầu tư nước ngoài) thì phải thường xuyên nâng cao chất lượng công tác quản lý xây dựng bắt đầu từ khâu lập quy hoạch, chuẩn bị mặt bằng xây dựng, đền bù di dân, khảo sát thiết kế, thi công xây dựng và đưa các dự án vào sử dụng, khai thác có hiệu quả. Tuy nhiên, trong những năm qua liên tục xảy ra các sự cố về chất lượng công trình, công trình không đảm bảo chất lượng gây nguy hại đến đời sống con người và xã hội, ảnh hưởng đến tâm lý của người dân, của nhà đầu tư có thể kể đến như: vụ sập cầu Cần Thơ, sự cố Hầm chui Văn Thánh (TP.
Hồ Chí Minh), sự cố thủy điện Sông Tranh 2, sự cố thủy điện Đạ Dâng – Đạ Chomo, chất lượng đường cao tốc Nội Bài – Lào Cai… Đồng thời với xu thế phát triển không ngừng của nền kinh tế - xã hội nói chung và của ngành xây dựng nói riêng thì nhu cầu về số lượng, quy mô, chất lượng công trình cũng ngày càng được quan tâm và đòi hỏi khắt khe hơn. Để đáp ứng được những yêu cầu đó thì các nhà đầu tư, nhà thầu cần tìm ra các giải pháp quản lý dự án để công trình tốt hơn nhằm đạt yêu cầu chất lượng, tiến độ và chi phí đặt ra. Bên cạnh đó, để nâng cao công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng theo chiều sâu, Nhà nước đã ban hành các luật, nghị định, thông tư để thi hành, hướng dẫn các công tác quản lý đầu tư, xây dựng công trình. Gần đây nhất, Bộ Xây dựng đã trình Chính phủ ban hành Nghị định số 15/2013/NĐ-CP ngày 06/02/2013 về quản lý chất lượng công trình xây dựng, Nghị định 121/2013/NĐ-CP ngày 10/10/2013 quy định xử 2 phạt hành chính trong hoạt động xây dựng; kinh doanh bất động sản; khai thác, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật; quản lý phát triển nhà và công sở.
Bộ Xây dựng cũng đã ban hành các thông tư hướng dẫn thực hiện Nghị định 15/2013/NĐ-CP như Thông tư số 10/2013/TT-BXD ngày 25/7/2013 Quy định chi tiết một số nội dung về quản lý chất lượng công trình xây dựng; Thông tư số 12/2013/TT-BXD ngày 31/7/2013 ban hành Quy định Tổ chức giải thưởng về chất lượng công trình xây dựng; Thông tư số 13/2013/TT-BXD ngày 15/8/2013 quy định thẩm tra, thẩm định và phê duyệt thiết kế xây dựng công trình; Thông tư số 09/2014/BXD ngày 10/7/2014 Sửa đổi, bổ sung một số điều tại các Thông tư hướng dẫn Nghị định số 15/2013/NĐ-CP. Nhận thấy được tầm quan trọng trong công tác quản lý chất lượng công trình, đặc biệt đối với công trình xây dựng cơ sở hạ tầng. Với những kiến thức quý báu đã được học từ trường Đại học Thủy Lợi và những kinh nghiệm công tác thực tế của bản thân tại công ty TNHH MTV Khu Công Nghiệp Vĩnh Lộc, tác giả lựa chọn đề tài “Nghiên cứu, đề xuất giải pháp nâng cao công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng của Chủ đầu tư cơ sở hạ tầng KCN Vĩnh Lộc” làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành quản lý xây dựng. Mục đích của đề tài: - Hệ thống hóa các văn bản pháp luận áp dụng cho quản lý chất lượng công trình xây dựng cơ sở hạ tầng khu công nghiệp; - Nghiên cứu quy trình, kiểm soát, đảm bảo chất lượng các giai đoạn trong đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng khu công nghiệp; - Nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý chất lượng công trình của Chủ đầu tư cơ sở hạ tầng Khu công nghiệp Vĩnh Lộc.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu: - Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các công trình trong dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng khu công nghiệp Vĩnh Lộc; - Phạm vi nghiên cứu là công tác quản lý chất lượng của Chủ đầu tư với các công trình thuộc dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng khu công nghiệp Vĩnh Lộc; 4. Cách tiếp cận và phƣơng pháp nghiên cứu: 4.1 Cách tiếp cận: - Tiếp cận hệ thống văn bản pháp luật về công tác quản lý chất lượng công trình; 3 - Tiếp cận thực tế tại công ty TNHH MTV KCN Vĩnh Lộc và nguồn dữ liệu của khu công nghiệp.2 Phương pháp nghiên cứu: - Tổng hợp và hệ thống hóa cơ sở lý luận. - Thống kê, khảo sát thực trạng. - Nghiên cứu, phân tích tổng hợp.
Kết quả dự kiến đạt đƣợc: - Hệ thống cơ sở lý luận về quản lý chất lượng xây dựng công trình cơ sở hạ tầng. - Các giải pháp nhằm nâng cao công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng cơ sở hạ tầng KCN Vĩnh Lộc. 4 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƢỢNG CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG 1.1 ĐẶC ĐIỂM CỦA CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG KCN 1.1 Đầu tƣ xây dựng khu công nghiệp ở Việt Nam 1.1 Tình hình đầu tư xây dựng khu công nghiệp ở nước ta [1] Tính đến cuối năm 2013, trên cả nước có 289 KCN được thành lập, cấp giấy chứng nhận đầu tư với tổng diện tích đất tự nhiên khoảng 81. Diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê đạt 54.184 ha (chiếm khoảng 66,7% tổng diện tích đất tự nhiên); 15 KKT ven biển được thành lập với tổng diện tích mặt đất và mặt nước hơn 698.221 ha, trong đó 10% diện tích đất phục vụ trực tiếp cho sản xuất công nghiệp, du lịch, dịch vụ, thương mại là các ngành tạo ra giá trị sản xuất cho KKT ven biển; và 28 KKT cửa khẩu với tổng diện tích hơn 600 nghìn ha.
Các KCN được thành lập trên 60 tỉnh, thành phố, chủ yếu tập trung tại các vùng kinh tế trọng điểm nhằm phát huy lợi thế về vị trí địa lý và tiềm năng phát triển kinh tế của các vùng. Đông Nam Bộ có số lượng KCN được thành lập nhiều nhất với 98 KCN, vùng Đồng bằng sông Hồng với 77 KCN; Đồng bằng sông Cửu Long với 51 KCN; khu vực miền trung có 33 KCN; Trung du miền núi phía Bắc với 23 KCN; Tây Nguyên với 7 KCN. Năm 2014, vốn đầu tư nước ngoài vào các KCN, KKT đạt 20,23 tỷ USD, trong đó có một số dự án lớn như: - Tổ hợp công nghệ cao Samsung Thái Nguyên giai đoạn 2 – vốn đầu tư 3 tỷ USD. - Samsung CE Complex – vốn đầu tư 1,4 tỷ USD.
- Tổ hợp nhà máy Samsung Display Bắc Ninh – vốn đầu tư 1 tỷ USD. - Sản xuất sợi tại KCN Texhong Hải Hà – vốn đầu tư 300 triệu USD. - Đầu tư xây dựng và kinh doanh cơ sở hạ tầng KCN cảng cửa ngõ quốc tế Hải Phòng – vốn đầu tư 259 triệu USD. - Đầu tư xây dựng kinh doanh hạ tầng KCN Texhong Hải Hà giai đoạn I – vốn đầu tư 215 triệu USD.
- Khu phức hợp Onehub Saigon – vốn đầu tư 130 triệu USD. 5 - Đầu tư xây dựng, kinh doanh hạ tầng kỹ thuật KCN và cảng Nam Tiền Phong, Đầm Nhà Mạc – vốn đầu tư 128 triệu USD.2 Vai trò của khu công nghiệp đối với nền kinh tế - Các KCN đã tạo nên giá trị gia tăng cao về giá trị sản xuất công nghiệp, đóng góp lớn vào giá trị sản xuất công nghiệp, góp phần đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. - Các KCN là nhân tố quan trọng nâng cao giá trị kim ngạch xuất khẩu, tham gia hội nhập kinh tế quốc tế, giải quyết việc làm, đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao thu nhập, đời sống và trình độ của người lao động. - Sự phát triển của các khu công nghiệp thúc đẩy sự phát triển của các loại hình dịch vụ phục vụ sản xuất công nghiệp, góp phần tăng thu ngân sách địa phương.
- Sự phát triển các KCN đã đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa; tạo sự phát triển đồng đều giữa các vùng, miền; góp phần hoàn thiện kết cấu hạ tầng xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái.3 Đặc điểm khu công nghiệp ở Việt Nam - Về mặt pháp lý: KCN được hình thành trên các vùng lãnh thổ của Việt Nam, các doanh nghiệp hoạt động trong các KCN của Việt Nam phải tuân thủ và chịu sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam. - Về mặt kinh tế xã hội: KCN là nơi tập trung nguồn lực để phát triển công nghiệp, các nguồn lực của địa phương, của các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Mục tiêu khi xây dựng khu công nghiệp là thu hút vốn đầu tư với quy mô lớn, thúc đẩy sản xuất công nghiệp, xuất nhập khẩu, tạo việc làm, phát triển cơ sở hạ tầng, chuyển giao công nghệ, kiểm soát ô nhiễm môi trường. - Về phương thức huy động vốn đầu tư: KCN có thể được bố trí vốn từ nguồn vốn đầu tư phát triển của ngân sách địa phương và nguồn vốn hỗ trợ có mục tiêu của ngân sách trung ương, vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), vốn tín dụng ưu đãi.
KCN thu hút vốn đầu tư theo các hình thức BOT, BT, BTO và các hình thức khác theo quy định của pháp luật. - Về mặt cơ sở hạ tầng: + Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, các hoạt động sản xuất, kinh doanh và dịch vụ luôn hoạt động trên nền tảng là CSHT tại từng địa phương cụ thể. + Việc đầu tư xây dựng CSHT không chỉ có sự tham gia của Chính phủ mà còn có sự đóng góp của các nhà đầu tư tư nhân và nhà đầu tư nước ngoài.