Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài "Kinh nghiệm quốc tế về phát triển các khu công nghiệp sinh thái và bài học cho Việt Nam" được nghiên cứu sinh Huỳnh Phúc Nguyên Thịnh thực hiện tại Học viện Khoa học xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, dưới sự hướng dẫn của hai nhà khoa học là Nguyễn Bình Giang và Lê Minh Tâm. Công trình thuộc chuyên ngành Kinh tế quốc tế (mã số 9 31 01 06), bảo vệ vào năm 2022.
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, văn bản luận án xác định các khu công nghiệp (KCN) và khu kinh tế (KKT) truyền thống tại Việt Nam trong thời gian dài đã đóng góp vào tăng trưởng kinh tế nhanh nhưng chưa bảo đảm tính bền vững. Quá trình phát triển KCN thông thường tập trung chủ yếu vào chỉ tiêu tài chính ngắn hạn mà chưa cân bằng giữa hiệu quả kinh tế với bảo vệ môi trường và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên. Trước các áp lực về ô nhiễm môi trường nước, không khí và sự suy giảm tài nguyên, việc chuyển đổi mô hình từ KCN thông thường sang khu công nghiệp sinh thái (KCNST) là yêu cầu tất yếu. Mặc dù Chính phủ Việt Nam đã phê duyệt Dự án "Triển khai sáng kiến khu công nghiệp sinh thái hướng tới mô hình khu công nghiệp bền vững tại Việt Nam" theo Quyết định số 1526/QĐ-TTg ngày 28/8/2014, ban hành Nghị định số 82/2018/NĐ-CP ngày 22/5/2018 và triển khai Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2050 (tháng 10/2021), song việc áp dụng trên thực tế vẫn còn hạn chế. Quá trình thí điểm gặp nhiều rào cản về thể chế chính sách, quy hoạch hạ tầng kỹ thuật dùng chung, năng lực công nghệ và cơ chế cộng sinh công nghiệp. Việc nghiên cứu có hệ thống kinh nghiệm quốc tế, đặc biệt là Trung Quốc và Hàn Quốc – hai quốc gia châu Á có điều kiện phát triển tương đồng và sớm triển khai KCNST – là cơ sở khoa học để tìm kiếm giải pháp cho Việt Nam.
Mục đích nghiên cứu tổng quát của luận án là cung cấp các bài học kinh nghiệm thực tiễn về phát triển KCNST từ nước ngoài, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp và kiến nghị nhằm phát triển KCNST tại Việt Nam.
Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản phân định thành ba nội dung cụ thể:
- Thứ nhất, chỉ ra một cách có hệ thống một số vấn đề lý luận và thực tiễn làm cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu sự phát triển các KCNST hiện nay.
- Thứ hai, trình bày, phân tích và đánh giá thực trạng phát triển KCNST ở Hàn Quốc và Trung Quốc; chỉ ra những thành công và hạn chế cùng nguyên nhân chủ yếu, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
- Thứ ba, từ thực tiễn và yêu cầu phát triển các KCNST ở Việt Nam, đề xuất các biện pháp và kiến nghị vận dụng các bài học kinh nghiệm vào thực tiễn Việt Nam trong thời gian tới.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là KCNST (eco-industrial park - KCNST) và quá trình phát triển KCNST, hiểu theo nghĩa là nỗ lực của chính phủ và các tổ chức nhằm xây dựng mới hoặc chuyển đổi KCN thông thường thành KCNST.
Phạm vi nghiên cứu được giới hạn như sau:
- Về nội dung: Tập trung vào nỗ lực phát triển KCNST trên cơ sở chuyển đổi từ các KCN thông thường sẵn có.
- Về thời gian: Khảo sát từ giữa thập niên 1990 (giai đoạn mô hình KCNST bắt đầu được triển khai thực nghiệm trên thế giới) cho đến thời điểm nghiên cứu (năm 2022).
- Về không gian: Giới hạn phạm vi quốc tế ở hai quốc gia châu Á là Trung Quốc và Hàn Quốc; đồng thời khảo cứu thực tiễn tại Việt Nam ở mức độ tổng hợp khái quát.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Văn bản luận án rà soát tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước theo bốn nhóm chủ đề chính:
Nhóm nghiên cứu lý thuyết nền tảng:
- Robert A. Frosch và Nicholas E. Gallopoulos (1989) đề xuất nền móng ban đầu của sinh thái học công nghiệp, định hướng loại bỏ chất thải trong chu trình sản xuất.
- Côté, Ellison, Hall, Klynstra, Martin và Wade (1994), Côté (2004) hệ thống hóa khái niệm KCNST như một hệ thống bảo tồn tài nguyên tự nhiên, tối ưu chi phí vận hành và mở rộng liên kết mạng lưới giữa các tác nhân bên trong và bên ngoài KCN.
- Lowe và Evans (1995), Lowe và cộng sự (1996) phân tích phối hợp quản lý môi trường và tài nguyên nhằm tối ưu hóa tổng lợi ích chung của toàn khu.
- Lowe (2001) trong sổ tay cho Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) đưa ra hệ thống tiêu chí hình thành KCNST cho các nước đang phát triển, song chưa tính toán sâu đặc thù thể chế của từng quốc gia riêng biệt.
- Chertow (2007) xác định cộng sinh công nghiệp (industrial symbiosis) là hạt nhân thúc đẩy trao đổi vật chất, năng lượng và phụ phẩm dựa trên sự gần kề địa lý.
Nhóm nghiên cứu về Trung Quốc:
- Zhang và cộng sự (2015) nghiên cứu trường hợp KCNST Lubei (Sơn Đông), phân tích mạng lưới cộng sinh công nghiệp thế hệ đầu.
- Yu và cộng sự (2013) khảo sát trường hợp Tianjin, xác định năm nhân tố tác động gồm thể chế, công nghệ, tài chính, thông tin và năng lực doanh nghiệp, trong đó môi trường thể chế đóng vai trò chi phối dài hạn.
- Lu và cộng sự (2015) phân tích cân bằng trao đổi carbon trong KCNST tại Bắc Kinh.
- Chu Jianpeng (2010), Yiping Fang (2008), Mathew và Tan (2011), Lei Shi và Bing Yu (2014) khảo sát các điển hình tại Tianjin, Fuzhou, Xian; chỉ ra sự thiếu đồng bộ giữa cơ chế pháp lý quốc gia với chiến lược kinh tế tuần hoàn và những hạn chế về không gian thử nghiệm công nghệ.
Nhóm nghiên cứu về Hàn Quốc:
- Keongseok (2011) chỉ ra ba trở ngại trong chương trình KCNST Hàn Quốc: thiếu cơ sở dữ liệu thống kê, giới hạn phạm vi địa lý - ngành nghề và mức độ tham gia chưa đồng đều của doanh nghiệp.
- Park và cộng sự (2016) đánh giá giai đoạn 1 (2005-2010) của chương trình phát triển KCNST quốc gia Hàn Quốc.
- Kim (2017) phân tích mối quan hệ giữa KCNST với chiến lược xanh hóa KCN.
- Park và cộng sự (2014), Park và Park (2014) phân tích trường hợp cụm công nghiệp Ulsan, đánh giá hiệu quả kinh tế của mạng lưới phân phối và trao đổi hơi nước công nghiệp.
- Trịnh Thị Tuyết Dung (2018) nghiên cứu khung pháp lý và thể chế phát triển KCNST tại Hàn Quốc.
Nhóm nghiên cứu tại Việt Nam:
- Dieu (2003) nghiên cứu sinh thái công nghiệp áp dụng cho ngành chế biến tinh bột mì.
- Phan Thu Nga (2006) đề xuất mô hình quản lý thống nhất môi trường KCN.
- Trần Thị Mỹ Diệu (2007) khảo sát trường hợp thí điểm tại Khu chế xuất Linh Trung 1.
- Nguyễn Cao Lãnh (2005, 2012) nghiên cứu thiết kế quy hoạch KCNST và mô hình sinh thái cho khu vực nông thôn đồng bằng sông Hồng.
- Trần Thị Mỹ Diệu và Phan Thu Nga (2010, 2013) nghiên cứu khung chính sách và bộ tiêu chí đánh giá KCNST tại Thành phố Hồ Chí Minh và phụ cận.
- Phùng Chí Sỹ (2015) đề xuất hệ thống tiêu chí chuyển đổi gồm 4 nhóm với 23 tiêu chí bắt buộc, 4 nhóm với 17 tiêu chí khuyến khích cùng thang đánh giá 5 bậc.
- Lê Ngọc Hiền và Đỗ Thị Thu Huyền (2015) khảo cứu KCN Đông Bình (Vĩnh Long) theo hướng tận dụng nguyên liệu tại chỗ.
- Nguyen Dinh Chuc, Tran Duy Dong, Nguyen Thi Thuc (2017), Trần Duy Đông và Nguyễn Đình Chúc (2018), Trần Duy Đông (2019) phân tích cơ chế chính sách chuyển đổi KCNST và đánh giá kết quả triển khai thực tế.
- Massard và cộng sự (2018), Stucki và cộng sự (2019) nghiên cứu các rào cản kỹ thuật, pháp lý và sự thiếu hụt cơ sở dữ liệu chất thải trong dự án do UNIDO tài trợ tại Việt Nam.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án lựa chọn giải quyết:
Các công trình tại Việt Nam trước đây phần lớn tiếp cận dưới góc độ kỹ thuật môi trường thuần túy, giới hạn trong một ngành hẹp hoặc một địa phương cụ thể, chưa phân tích toàn diện khía cạnh hiệu quả kinh tế và thể chế điều hành ở quy mô quốc gia. Các nghiên cứu quốc tế về Hàn Quốc và Trung Quốc chưa được tổng hợp so sánh trực tiếp với các điều kiện thể chế, pháp lý của Việt Nam. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng việc xây dựng khung phân tích kết hợp hiệu quả kinh tế - xã hội - môi trường, đánh giá sâu cơ chế thực thi chính sách tại Trung Quốc và Hàn Quốc để đề xuất các giải pháp khả thi cho Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về cơ sở lý thuyết, luận án xác định KCNST là một không gian sản xuất công nghiệp thực hiện kinh tế tuần hoàn, tích hợp bốn mục tiêu: hiệu quả kinh tế, hiệu quả môi trường, hiệu quả sử dụng tài nguyên thiên nhiên và hiệu quả xã hội. Nghiên cứu phân tích KCNST dựa trên ba góc độ:
- Sinh thái công nghiệp mô tả dòng vật chất, sự chuyển hóa vật chất và giải pháp công nghệ nhằm tối ưu hóa dòng nguyên liệu và năng lượng.
- Mối quan hệ cộng sinh công nghiệp hình thành giữa các doanh nghiệp hoạt động trong KCN thông qua chia sẻ, trao đổi phụ phẩm và dùng chung hạ tầng.
- Liên kết giữa KCN với cộng đồng dân cư địa phương xét trên cả hai phương diện sinh thái và việc làm xã hội.
Các lý thuyết bổ trợ gồm: lý thuyết cụm liên kết ngành, mạng sản xuất và mô hình kinh tế xanh theo tiếp cận của Sertyesilisik và Sertyesilisik (2016). Về phân loại hình thành, luận án chia KCNST thành ba dạng: dạng từ trên xuống (Top-down - do nhà nước quy hoạch, thành lập), dạng từ dưới lên (Bottom-up - chuyển đổi độc lập từ doanh nghiệp, điển hình là Kalundborg tại Đan Mạch), và dạng cải tạo chuyển đổi (Retrofitted - chuyển đổi KCN thông thường thành KCNST, là dạng phổ biến nhất). Phân loại theo ngành sản xuất gồm: KCNST nông nghiệp, KCNST tái tạo tài nguyên, KCNST năng lượng tái sinh, KCNST nhà máy điện và KCNST lọc hóa dầu.
Về phương pháp nghiên cứu, luận án sử dụng hướng tiếp cận liên ngành giữa kinh tế công cộng, kinh tế môi trường, kinh tế chính trị và kinh tế thế giới:
- Phương pháp nghiên cứu tại bàn, kế thừa và tổng hợp tài liệu thứ cấp từ các ấn phẩm khoa học, văn kiện pháp lý và báo cáo chuyên ngành.
- Phương pháp thống kê và xử lý số liệu: Số liệu thu thập từ các cơ quan trong nước và quốc tế được hệ thống hóa, xử lý và quy chuẩn về cùng mặt bằng so sánh bằng phần mềm Excel.
- Phương pháp so sánh: Đối chiếu sự khác biệt giữa KCN thông thường và KCNST; so sánh cơ chế quản lý, cách tiếp cận chính sách giữa Hàn Quốc, Trung Quốc và Việt Nam.
- Phương pháp phân tích định tính: Đánh giá cơ chế vận hành chính sách, các rào cản thể chế và nguyên nhân của những tồn tại ở các nước khảo sát.
- Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình (case study): Đánh giá sâu các mô hình KCNST tại Hàn Quốc và Trung Quốc.
- Phương pháp tham vấn chuyên gia: Khảo sát, ghi nhận ý kiến của các nhà quản lý, nhà nghiên cứu tại "Hội thảo chuyên gia quốc tế về khu công nghiệp sinh thái tại Việt Nam" (ngày 29/9/2016 tại Quảng Nam) và "Hội thảo chuyên gia quốc tế lần thứ hai về Khu công nghiệp sinh thái ở Việt Nam: Cơ hội, thách thức và rào cản phát triển" (ngày 08-09/11/2018 tại Thành phố Hồ Chí Minh).
Nguồn dữ liệu của luận án bao gồm dữ liệu từ các tổ chức quốc tế như Tổ chức Tiêu chuẩn quốc tế (ISO), Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO); dữ liệu từ Hàn Quốc như Trung tâm Hỗ trợ Sản xuất sạch Quốc gia Hàn Quốc (KNCPC), Bộ Thương mại, Công nghiệp và Tài nguyên Hàn Quốc (MOTIE), Tổng công ty Khu công nghiệp Hàn Quốc (KICOX); dữ liệu từ Trung Quốc như Bộ Môi trường sinh thái (MEP), Bộ Khoa học và Công nghệ (MOST), Bộ Thương mại và Kinh tế đối ngoại (MOFCOM), Tổng cục Bảo vệ Môi trường Quốc gia (SEPA); dữ liệu từ Việt Nam như Tổng cục Thống kê và Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
Chương 1 thực hiện tổng thuật có hệ thống các tài liệu nghiên cứu liên quan đến đề tài theo bốn phân mục: các nghiên cứu lý thuyết về KCNST; các nghiên cứu về KCNST tại Trung Quốc; các nghiên cứu về KCNST tại Hàn Quốc; và các nghiên cứu về KCNST tại Việt Nam.
Tác giả chỉ ra rằng các công trình quốc tế đã làm sáng tỏ khái niệm, tiêu chí, cơ chế cộng sinh công nghiệp và lợi ích môi trường của mô hình KCNST. Tuy nhiên, các nghiên cứu quốc tế thường tập trung vào phân tích kỹ thuật hoặc các khía cạnh môi trường đơn lẻ mà chưa giải quyết thỏa đáng tính khả thi về mặt kinh tế khi áp dụng vào các quốc gia đang phát triển. Tại Việt Nam, các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào các trường hợp cụ thể (như ngành chế biến thực phẩm, tiểu vùng nông thôn đồng bằng sông Hồng, hoặc một KCN riêng lẻ như Linh Trung 1, Đông Bình), hoặc nghiên cứu khung chính sách ở cấp địa phương (Thành phố Hồ Chí Minh). Chương 1 khẳng định khoảng trống lớn cần giải quyết là nghiên cứu toàn diện việc thực thi chính sách ở tầm quốc gia, đánh giá so sánh trực tiếp mô hình của Trung Quốc và Hàn Quốc để rút ra bài học thực tiễn phù hợp với điều kiện Việt Nam.
Chương 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KHU CÔNG NGHIỆP SINH THÁI VÀ PHÁT TRIỂN KHU CÔNG NGHIỆP SINH THÁI
Chương 2 làm rõ bản chất lý luận của KCNST và quá trình phát triển mô hình này:
- Định nghĩa và phân loại: KCNST được xác lập là tổ hợp sản xuất kinh doanh hướng đến bốn mục tiêu (kinh tế, môi trường, tài nguyên và xã hội). Phân tích chi tiết ba dạng mô hình thành lập gồm Top-down, Bottom-up và Retrofitted; cùng năm dạng chuyên ngành sản xuất.
- Đóng góp và hạn chế của KCN thông thường: KCN thông thường có đóng góp quan trọng trong việc thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước, giải quyết việc làm, hiện đại hóa hạ tầng và đóng góp ngân sách. Tuy nhiên, KCN thông thường tồn tại nhiều bất cập: gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng về nước và không khí do thiếu hạ tầng xử lý đạt chuẩn (theo Võ Thanh Thu, 2017); hiệu quả sử dụng vốn của các doanh nghiệp FDI chưa cao, hạ tầng xã hội và dịch vụ phụ trợ thiếu đồng bộ (theo Nguyễn Ngọc Điệp, 2015); và thiếu liên kết nội vùng, chưa hình thành cụm liên kết ngành chặt chẽ.
- Tiền đề phát triển KCNST: Phân tích cơ sở khoa học của hệ sinh thái công nghiệp, cộng sinh công nghiệp và kinh tế tuần hoàn.
- Lợi ích của KCNST: Được tác giả tổng hợp trên bốn chủ thể: ngành sản xuất (giảm chi phí tài nguyên, tiếp thu công nghệ, tăng sức cạnh tranh), môi trường (giảm phát thải và khai thác tự nhiên), chính phủ (thử nghiệm chính sách bảo vệ môi trường, đa dạng hóa kinh tế), và cộng đồng dân cư (tạo việc làm, môi trường sống an toàn).
- Khung phân tích của luận án (Hình 2.3): Thiết lập sơ đồ tương tác giữa môi trường thể chế chính sách, hoạt động của doanh nghiệp, chuỗi cung ứng và sự hỗ trợ hạ tầng kỹ thuật.
Chương 3: PHÁT TRIỂN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP SINH THÁI Ở TRUNG QUỐC VÀ HÀN QUỐC
Chương 3 khảo sát thực trạng, hệ thống chính sách và những hạn chế tại hai quốc gia:
- Phát triển KCNST tại Trung Quốc:
- Quá trình triển khai bắt đầu từ thí điểm năm 1999 thông qua Tổng cục Bảo vệ Môi trường Quốc gia (SEPA). Đến tháng 1/2007, Trung Quốc đã thành lập 24 KCNST trên cả nước (theo Yiping Fang, 2008). Cơ chế quản lý có sự tham gia phối hợp giữa các cơ quan cấp bộ gồm MEP, MOST, MOFCOM và SEPA (Bảng 3.2, Bảng 3.3).
- Khung kỹ thuật quản lý dựa trên Hệ thống tiêu chuẩn đối với KCNST nội ngành mang mã hiệu HJ247-2009 sửa đổi năm 2012 (Bảng 3.4).
- Phương thức thực hiện của Trung Quốc mang tính tự nguyện: Nhà nước ban hành tiêu chuẩn và cơ chế quản lý, các doanh nghiệp chủ động đăng ký tham gia chương trình thí điểm quốc gia nếu đáp ứng tiêu chuẩn.
- Các điển hình nghiên cứu gồm KCNST Lubei (Sơn Đông), Tianjin, Fuzhou và Xian.
- Hạn chế tại Trung Quốc: Hệ thống pháp luật quốc gia chưa thích ứng hoàn toàn với yêu cầu của kinh tế tuần hoàn; sự phối hợp giữa cơ quan quản lý và địa phương còn lỏng lẻo; thiếu đồng bộ về công nghệ và năng lực tự chủ của doanh nghiệp.
- Phát triển KCNST tại Hàn Quốc:
- Hàn Quốc áp dụng phương thức tiếp cận mệnh lệnh từ trên xuống (Top-down) do Chính phủ trực tiếp chủ trì. Cơ quan quản lý ban hành tiêu chí xác định trước, lựa chọn các KCN thông thường hiện hữu và lập quy hoạch chuyển đổi thành KCNST theo Kế hoạch phát triển KCNST quốc gia (Bảng 3.6). Các cơ quan quản trị chính gồm MOTIE, KNCPC và KICOX.
- Kết quả: Hàn Quốc đã chuyển đổi thành công 51 khu công nghiệp trong tổng số 1.074 khu công nghiệp thông thường trên toàn quốc.
- Điển hình nghiên cứu: Cụm công nghiệp Ulsan thực hiện cộng sinh công nghiệp thông qua mạng lưới tuần hoàn và chia sẻ hơi nước, đem lại hiệu quả giảm chi phí năng lượng cho các ngành hóa chất và khoáng chất.
- Hạn chế tại Hàn Quốc: Thiếu cơ sở dữ liệu và công cụ trợ giúp thống kê về dòng vật chất; phạm vi các ngành công nghiệp tham gia còn hạn chế; khoảng cách địa lý giữa các KCN gây cản trở mở rộng mạng lưới trao đổi chất thải.
Bảng tổng hợp so sánh kinh nghiệm phát triển KCNST tại Trung Quốc và Hàn Quốc:
| Tiêu chí so sánh |
Trung Quốc |
Hàn Quốc |
| Phương thức tiếp cận |
Tự nguyện (Bottom-up kết hợp điều kiện quốc gia): Doanh nghiệp chủ động đăng ký tham gia khi thỏa mãn tiêu chuẩn. |
Mệnh lệnh từ trên xuống (Top-down): Chính phủ quy hoạch, lựa chọn KCN thông thường và điều phối chuyển đổi. |
| Cơ quan quản lý chủ trì |
MEP (trước đây là SEPA), MOST, MOFCOM. |
MOTIE, Trung tâm KNCPC, Tổng công ty KICOX. |
| Công cụ và tiêu chuẩn kỹ thuật |
Hệ thống tiêu chuẩn quốc gia đối với KCNST nội ngành HJ247-2009 (sửa đổi năm 2012). |
Kế hoạch phát triển KCNST quốc gia chia thành các giai đoạn (Phase 1: 2005-2010; Phase 2; Phase 3). |
| Kết quả thực tiễn ghi nhận |
Khởi động từ năm 1999; đạt 24 KCNST thành lập tính đến tháng 1/2007; nhân rộng tại Lubei, Tianjin, Xian. |
Chuyển đổi thành công 51 KCNST từ 1.074 KCN thông thường; mạng lưới trao đổi hơi nước tại Ulsan. |
| Hạn chế lớn nhất |
Khung thể chế vĩ mô chưa đồng bộ; thiếu tính độc lập về công nghệ và không gian thực nghiệm. |
Thiếu dữ liệu thống kê dòng chất thải; phạm vi ngành tham gia hẹp; hạn chế về khoảng cách địa lý. |
Từ thực tiễn hai quốc gia, tác giả rút ra các bài học kinh nghiệm: phát triển KCNST cần kết hợp đồng thời mục tiêu kinh tế, môi trường và xã hội; lồng ghép phương thức chỉ đạo từ trên xuống với các chính sách ưu đãi nhằm thu hút doanh nghiệp tự nguyện tham gia; chuẩn hóa bộ tiêu chí đánh giá; và lựa chọn KCN thí điểm phù hợp trước khi nhân rộng.
Chương 4: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP SINH THÁI Ở VIỆT NAM
Chương 4 khảo sát thực trạng và đề xuất giải pháp cho Việt Nam:
- Thực trạng và cơ sở triển khai tại Việt Nam: Căn cứ Quyết định số 1526/QĐ-TTg (năm 2014) về thí điểm KCNST, Nghị định số 82/2018/NĐ-CP (quy định tiêu chí KCNST) và Chiến lược tăng trưởng xanh (tháng 10/2021). Luận án ghi nhận kết quả triển khai mô hình Sản xuất sạch hơn và Sử dụng hiệu quả tài nguyên (RECP) tại các KCN thí điểm giai đoạn 2016-2018 (Bảng 4.2, Bảng 4.3), cùng trường hợp thí điểm tại KCN Hòa Khánh thuộc thành phố Đà Nẵng (Bảng 4.4).
- So sánh đối chiếu: So với Hàn Quốc và Trung Quốc, Việt Nam có sự tương đồng về định hướng kinh tế nhưng thiếu hụt khung pháp lý cụ thể hướng dẫn tái sử dụng chất thải, thiếu cơ sở dữ liệu số lượng/chất lượng phụ phẩm và trình độ công nghệ xử lý còn thấp.
- Bốn nhóm giải pháp đề xuất cho Việt Nam:
- Nhóm giải pháp về thể chế và chính sách: Xây dựng khung pháp lý riêng biệt về KCNST; ban hành chính sách ưu đãi tài chính, thuế, tín dụng xanh và đất đai cho các doanh nghiệp tham gia chuyển đổi.
- Nhóm giải pháp về quy hoạch, tiêu chuẩn, quy chuẩn và chuẩn bị hạ tầng: Hoàn thiện quy hoạch mạng lưới KCN; ban hành hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia về KCNST; đầu tư đồng bộ hạ tầng xử lý nước thải, năng lượng tái tạo và logistics dùng chung.
- Nhóm giải pháp về phát triển hệ thống thông tin và trình độ công nghệ: Xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về trao đổi chất thải và phụ phẩm công nghiệp; hỗ trợ doanh nghiệp tiếp nhận và làm chủ công nghệ xử lý chất thải, tái chế phụ phẩm.
- Nhóm giải pháp về chuỗi cung ứng và cụm liên kết ngành: Tạo điều kiện hình thành các cụm liên kết công nghiệp phụ trợ; khuyến khích các mối liên kết cộng sinh công nghiệp khép kín dòng vật chất giữa các doanh nghiệp trong và ngoài KCN.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận:
- Luận án hệ thống hóa các vấn đề lý luận về KCNST, làm rõ các tiền đề của hệ sinh thái công nghiệp, cộng sinh công nghiệp và kinh tế tuần hoàn trong phát triển công nghiệp.
- Xây dựng khung phân tích phát triển KCNST ở quy mô quốc gia, tích hợp các yếu tố thể chế, kinh tế, môi trường và xã hội, tạo công cụ tham khảo cho các nghiên cứu tiếp theo.
Về mặt thực tiễn:
- Phân tích và đánh giá so sánh thực chứng hai mô hình phát triển KCNST: mô hình tự nguyện dựa trên việc đáp ứng tiêu chuẩn của Trung Quốc và mô hình mệnh lệnh quy hoạch từ trên xuống của Hàn Quốc.
- Chỉ ra các nguyên nhân dẫn đến hạn chế trong triển khai KCNST ở nước ngoài (như thiếu hụt hệ thống thống kê vật chất, rào cản pháp lý quốc gia về chất thải, giới hạn không gian địa lý).
- Căn cứ vào điều kiện thực tế tại Việt Nam, luận án đề xuất hệ thống bốn nhóm giải pháp đồng bộ (thể chế chính sách; quy hoạch và chuẩn bị hạ tầng; phát triển hệ thống thông tin và công nghệ; phát triển chuỗi cung ứng và cụm liên kết ngành) nhằm phục vụ quá trình chuyển đổi các KCN thông thường thành KCNST.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế:
- Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu thực tiễn quốc tế trong hai quốc gia châu Á là Trung Quốc và Hàn Quốc do giới hạn về dung lượng và nguồn lực nghiên cứu.
- Thực trạng phát triển KCNST tại Việt Nam chỉ được trình bày ở mức độ tổng quan, khái quát các kết quả thí điểm ban đầu; tác giả không đi sâu vào phân tích vi mô chi tiết của từng doanh nghiệp tại Việt Nam trong khuôn khổ luận án mà trình bày ở công trình công bố riêng.
Về hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các mô hình phát triển KCNST tự phát hoặc chuyển đổi độc lập (dạng Bottom-up) tại các nước phát triển phương Tây (như trường hợp Kalundborg ở Đan Mạch) để làm phong phú kinh nghiệm so sánh.
- Tiến hành các khảo sát định lượng chuyên sâu về dòng năng lượng, nguyên liệu và cân đối kinh tế cụ thể tại các KCN đang thực hiện chuyển đổi tại Việt Nam.
Giá trị tham khảo
Luận án cung cấp giá trị tham khảo cho các nhóm đối tượng:
- Các cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Ban quản lý các KCN và KKT): Tham khảo cơ sở lý luận và kinh nghiệm quản lý quốc tế để hoàn thiện thể chế, bổ sung cơ chế khuyến khích cộng sinh công nghiệp và hoàn thiện quy chuẩn kỹ thuật cho KCNST tại Việt Nam.
- Các nhà đầu tư phát triển hạ tầng KCN và doanh nghiệp sản xuất: Tham khảo mô hình chia sẻ hạ tầng, sử dụng năng lượng tái tạo, quản lý phụ phẩm và mạng lưới phân phối hơi nước từ điển hình KCN Ulsan và Lubei.
- Các giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên chuyên ngành Kinh tế quốc tế, Quản lý kinh tế và Kinh tế môi trường: Sử dụng khung phân tích, hệ thống tài liệu tổng quan và phương pháp nghiên cứu tình huống điển hình để phục vụ giảng dạy và nghiên cứu về kinh tế tuần hoàn và công nghiệp hóa bền vững.
Câu hỏi thường gặp
-
Khái niệm KCNST trong luận án được định nghĩa dựa trên các yếu tố nào?
Trong khuôn khổ nghiên cứu, KCNST được xác định là KCN thực hiện kinh tế tuần hoàn, là sự cộng hưởng của bốn mục tiêu gồm: hiệu quả kinh tế, hiệu quả môi trường, hiệu quả sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên và hiệu quả xã hội trong mối tương tác giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp và doanh nghiệp với cộng đồng.
-
Sự khác biệt cơ bản trong cách tiếp cận phát triển KCNST giữa Trung Quốc và Hàn Quốc là gì?
Trung Quốc áp dụng phương thức tiếp cận tự nguyện, theo đó chính phủ ban hành tiêu chuẩn quốc gia và doanh nghiệp tự nguyện đăng ký tham gia chương trình thí điểm khi đủ điều kiện. Ngược lại, Hàn Quốc áp dụng phương thức tiếp cận mệnh lệnh từ trên xuống (Top-down), chính phủ chủ động lựa chọn các KCN thông thường dựa trên tiêu chí định sẵn và lập kế hoạch chuyển đổi trên quy mô quốc gia.
-
Kết quả chuyển đổi KCNST cụ thể tại Hàn Quốc được ghi nhận trong luận án là gì?
Hàn Quốc đã thực hiện thành công việc chuyển đổi 51 khu công nghiệp trong tổng số 1.074 khu công nghiệp thông thường của nước này, hình thành các mạng lưới cộng sinh công nghiệp điển hình, nổi bật là mạng lưới chia sẻ và tận dụng hơi nước tại tổ hợp công nghiệp Ulsan.
-
Những rào cản chính đối với phát triển KCNST tại Việt Nam được luận án chỉ ra là gì?
Các rào cản chính gồm: khung thể chế và pháp lý chưa đồng bộ, thiếu cơ chế và quy chuẩn cho việc tái sử dụng chất thải/phụ phẩm; hạ tầng kỹ thuật phục vụ tái chế và dùng chung chưa hoàn thiện; thiếu hệ thống cơ sở dữ liệu tin cậy về số lượng và chất lượng dòng chất thải; và năng lực công nghệ của doanh nghiệp trong nước còn hạn chế.
-
Luận án đề xuất mấy nhóm giải pháp để phát triển KCNST tại Việt Nam?
Luận án đề xuất bốn nhóm giải pháp chính: (1) Nhóm giải pháp về thể chế và chính sách; (2) Nhóm giải pháp về quy hoạch, tiêu chuẩn, quy chuẩn và chuẩn bị hạ tầng; (3) Nhóm giải pháp về phát triển hệ thống thông tin và trình độ công nghệ; (4) Nhóm giải pháp về chuỗi cung ứng và cụm liên kết ngành.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Huỳnh Phúc Nguyên Thịnh đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về khu công nghiệp sinh thái, sinh thái học công nghiệp và kinh tế tuần hoàn. Thông qua việc phân tích thực chứng kinh nghiệm chuyển đổi KCNST tại Trung Quốc và Hàn Quốc, công trình đã làm rõ hai phương thức tiếp cận quản lý điển hình cùng các nguyên nhân dẫn đến thành công và hạn chế tại hai quốc gia này. Kết hợp với việc đánh giá thực trạng KCN tại Việt Nam, luận án đề xuất hệ thống bốn nhóm giải pháp về thể chế, quy hoạch hạ tầng, thông tin công nghệ và liên kết chuỗi cung ứng, cung cấp cơ sở khoa học phục vụ quá trình hoàn thiện chính sách công nghiệp hóa theo hướng bền vững.