Mở đầu Chƣơng 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về hợp tác xã 3 Chƣơng 2. Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3. Thực trạng phát triển hợp tác xã tại tỉnh Hà Giang Chƣơng 4.
Phƣơng hƣớng và một số giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh hoạt động của hợp tác xã trên địa bàn tỉnh Hà Giang tầm nhìn đến năm 2020 Kết luận 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HỢP TÁC XÃ 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Kinh tế hợp tác và hợp tác xã ra đời nhƣ một tất yếu khách quan trong tiến trình phát triển của nền kinh tế và có một lịch sử phát triển lâu đời, thu hút sự quan tâm nghiên cứu của các học giả, các cơ quan nghiên cứu, giới lãnh đạo các nƣớc cũng nhƣ các tổ chức quốc tế. Có khá nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc bàn về những khía cạnh khác nhau của kinh tế hợp tác và hợp tác xã. Dƣới đây là một số công trình nghiên cứu tiêu biểu mà ngƣời viết có thể tiếp cận đƣợc: Về các công trình của nƣớc ngoài: th - Marvin A.Scharrs (1980), Cooperatives, Principles and Practices, 4 ed., University of Wisconsin-Madison.
Công trình đƣợc đánh giá là tài liệu tham khảo hữu ích về HTX cho các đối tƣợng nhƣ các nhà lãnh đạo, các nhà kinh tế phát triển, các học viên sinh viên chuyên sâu về HTX, và cả chính các thành viên HTX không chỉ tại Mỹ mà còn trên toàn thế giới. Tác giả đã phân tích và làm rõ bản chất của HTX, lịch sử, xu hƣớng phát triển của HTX trên thế giới và tại Mỹ, phân loại HTX, vai trò, nghĩa vụ của HTX, những lợi ích và hạn chế của HTX. Tác giả nhấn mạnh, mặc dù HTX có một lịch sử phát triển nổi bật, nhƣng mô hình HTX không phải là là kiểu cấu trúc tốt nhất cho mọi công việc (dự án) kinh doanh. Do vậy, việc lựa chọn cấu trúc kinh doanh phù hợp nhất là một quyết định có tính chiến lƣợc quan trọng đối với chủ doanh nghiệp.
- UNDESA and ICA (2009), Background Paper on Cooperatives, báo cáo của nhóm chuyên gia của Liên Hợp Quốc và Liên minh Hợp tác xã quốc tế đã đánh giá cao đóng góp của HTX đối với sự phát triển kinh tế-xã hội, đặc biệt là đối với xóa đói giảm nghèo, tạo việc làm và an ninh, nhấn mạnh đến vai trò của các HTX nông nghiệp và tài chính trong bối cảnh khủng hoảng lƣơng thực và tài chính hiện hành. Các chuyên gia cũng chia sẻ về các kinh nghiệm quốc gia và khu vực trong việc củng cố HTX và xác định những biện pháp chính sách để nâng cao và đẩy mạnh tác động của các HTX đối với phát triển kinh tế-xã hội 5 - Birchall, Johnston (2004),Cooperatives and the Millenium Development Goals, ILO, Geneva. Trong công trình nghiên cứu này, tác giả đã đƣa ra một luận điểm quan trọng rằng tiếng tăm trong quá khứ về cái gọi là HTX đƣợc hình thành và kiểm soát bởi nhà nƣớc mà đã không thể dẫn đến sự phát triển kinh tế-xã hội không phải là một phần di sản của HTX bởi chúng không phải là HTX thực sự, theo đúng nghĩa. Do đó, việc làm rõ HTX thực sự là gì và chúng có năng lực nhƣ thế nào là vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt.
Trong tác phẩm của mình Johnston nêu bật những thành tựu của HTX ở các nƣớc phát triển và đang phát triển. Ông đã chỉ rõ xét cả về lý luận và thực tiễn HTX là các doanh nghiệp phát đạt và đóng góp quan trọng cho công cuộc xóa đói giảm nghèo, khuyến khích bình đẳng giới, cung cấp dịch vụ y tế, đấu tranh với dịch bệnh HIV/AIDs, đảm bảo sự bền vững về môi trƣờng, làm việc thông qua quan hệ đối tác với nhiều bên liên quan. - Edgar Parnell (1992), A New Look at Cooperatives and Their Role in Developing Countries, Small Enterprise Development, Volume 13, No1.Theo tác giả, HTX đƣợc lựa chọn trong nhiều tình huống: ở các nƣớc XHCN nhƣ là một giai đoạn phát triển hƣớng tới một nền kinh tế ít tập trung hơn và ở Mỹ nhƣ là đối trọng với hệ thống kinh tế thị trƣờng thiên về CNTB. HTX đƣợc nhiều ngƣời ủng hộ nhƣng cũng có không ít ngƣời phản đối và có nhiều ví dụ thành công cũng nhƣ thất bại hỗ trợ cho quan điểm mỗi bên.
Bài báo cho rằng HTX là những DN “đặt con ngƣời là trung tâm” là lựa chọn thay thế cho các DN mà mục tiêu ƣu tiên hàng đầu là kiếm lợi nhuận từ vốn sở hữu. Bài báo đã làm rõ bản chất, sự khác biệt của HTX, và chỉ ra một số cạm bẫy mà HTX cần phải tránh để thành công. - Birchall Johnston and Lou Hammond Ketilson (2009), Resilience of the Cooperative Business Model in Time of Crisis, ILO, Geneva. Các tác giả nhận định, cuộc khủng hoảng tài chính và kéo theo nó là cuộckhủng hoảng kinh tế toàn cầu đã có những tác động tiêu cực tới đa số các DN.
Tuy nhiên, các DN hợp tác trên thế giới đang cho thấy khả năng chống đỡ kiên cƣờng của chúng đối với khủng hoảng. Các HTX tài chính cho thấy chúng vẫn hoàn toàn khỏe mạnh, các HTX tiêu thụ thì vẫn báo cáo gia tăng doanh thu, các HTX lao động vẫn cho thấy có sự tăng trƣởng do nhiều ngƣời lựa chọn HTX nhƣ là hình thức DN đáp ứng thực tiễn kinh tế mới. Câu hỏi đặt ra là tại sao DN hợp tác lại kiên cƣờng nhƣ vậy? Công trình nghiên cứu cung cấp bằng chứng lịch sử và bằng chứng thực tiễn hiện tại chứng minh rằng mô hình DN hợp tác 6 sống sót đƣợc trong khủng hoảng, nhƣng điều quan trọng hơn nó là mô hình DN bền vững có thể trụ vững trong khủng hoảng đồng thời duy trì sinh kế của các cộng đồng nơi nó hoạt động. Các tác giả đã đƣa ra khuyến nghị về các cách thức mà ILO có thể tăng cƣờng hoạt động của nó trong việc thúc đẩy các hợp tác xã nhƣ một phƣơng tiện để giải quyết cuộc khủng hoảng hiện tại và ngăn ngừa khủng hoảng tƣơng lai.
Sexton and Julie Iskow (1993), What Do We Know About the Economic Efficiency of Cooperatives: An Evaluative Survey, Journal of Agricultural Cooperation. Bài báo phân tích vấn đề hiệu quả kinh tế của HTX và đánh giá những tuyên bố có tính mâu thuẫn liên quan đến vấn đề. Các tác giả đƣa ra những quan niệm về hiệu quả kinh tế phù hợp với chủ đề thảo luận và liên hệ những quan niệm này với lý thuyết về HTX để rút ra giả thuyết về hiệu quả của HTX. Trên nền khái niệm này, các nghiên cứu về hiệu quả của HTX đã đƣợc hai tác giả xem xét, so sánh và phê phán.
Kết luận của bài báo là mặc dù có khá nhiều công trình nghiên cứu về hiệu quả của HTX nhƣng bằng chứng về hiệu quả kinh tế của HTX còn khá hạn chế và không ủng hộ cho quan điểm phổ biến cho rằng HTX là kém hiệu quả so với các hãng sở hữu bởi các nhà đầu tƣ. Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu về HTX nhƣ: USAID and CLARITY (2006), Enabling Cooperative Development-Principles for Legal Reform […]; Taimni, Krishan K. (2001), Cooperatives in Asia: from Reform to Reconstruction, ILO Geneva; Jennifer D. Masicat, Batangas Heavy Fabrication Yard Multi-Purpose Cooperative: Basis for Business Operation, Asia Pacific Journal of Multidisciplinary Research, No 4 August 2014, … Về các công trình nghiên cứu trong nƣớc: Tại Việt Nam, HTX cũng là chủ đề đƣợc nhiều cơ quan khoa học, nhiều nhà nghiên cứu xem xét dƣới nhiều góc độ, phạm vi và mức độ khác nhau.
Có thể nêu một số công trình tiêu biểu nhƣ: - Lƣơng Xuân Quỳ, Nguyễn Thế Nhã (1999) “Đổi mới tổ chức và quản lý HTX trong nông nghiệp nông thôn”, Nxb Nông nghiệp. Các tác giả đã khái quát toàn bộ quá trình phát triển của các hình thức tổ chức, quản lý các HTX trong nông thôn Việt Nam từ trƣớc đến khi chuyển sang kinh tế thị trƣờng và phân tích thực trạng mô hình tổ chức quản lý các HTX ở một số địa phƣơng tiêu biểu. Trên cơ sở đó phác họa một số 7 phƣơng hƣớng và giải pháp chủ yếu để xây dựng mô hình tổ chức có hiệu quả cho các loại hình HTX. - Nguyễn Văn Bình, Chu Tiến Quang, Lƣu Văn Sùng (2001) “Kinh tế hợp tác, hợp tác xã ở Việt Nam- Thực trạng và định hướng phát triển”, Nxb Nông nghiệp.
Các tác giả đã hệ thống hóa quá trình hình thành, phát triển các lọai hình kinh tế hợp tác, hợp tác xã trên thế giới và ở Việt Nam với những thành công và tồn tại, từ đó nêu lên định hƣớng phát triển phù hợp đƣờng lối đổi mới của Đảng và Nhà nƣớc ta. - Phạm Thị Cần, Vũ Văn Phúc, Nguyễn Văn Kỷ (2003) “Kinh tế hợp tác trong nông nghiệp nước ta hiện nay”, Nxb Chính trị quốc gia. Các tác giả tập trung trình bày những vấn đề lý luận và thực tiễn về kinh tế hợp tác, HTX; sự cần thiết khách quan phải lựa chọn các mô hình kinh tế hợp tác, HTX phù hợp với đặc điểm, điều kiện nông nghiệp, nông thôn nƣớc ta, đề xuất những giải pháp phát triển các mô hình kinh tế hợp tác, HTX trong nông nghiệp, nông thôn Việt Nam hiện nay. - Hồ Văn Vĩnh (2005): “Phát triển hợp tác xã nông nghiệp trong thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nƣớc ta”, Tạp chí Cộng sản, số 8-2005.
Ở bài viết này, tác giả bàn đến những cách thức chuyển đổi HTXNN kiểu cũ sang HTXNN kiểu mới trên cơ sở quán triệt đƣờng lối đổi mới HTXNN của Đảng. Tác giả cũng đã nêu lên mối quan hệ tác động qua lại giữa HTXNN và CNH, HĐH, đồng thời nêu ra những nguyên nhân của sự khó khăn khi phát triển HTXNN trong thời kì mới và những giải pháp để tháo gỡ khó khăn này. - Chu Tiến Quang, Lê Xuân Quỳnh (2004) “Tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế hợp tác và hợp tác xã ở Việt Nam”, CIEM. Các tác giả đã khẳng định kể từ khi Luật HTX ra đời (3/1996) và chính thức có hiệu lực từ 1/1/1997 khu vực kinh tế hợp tác và HTX ở nƣớc ta đã thay đổi cơ bản cả về lƣợng và chất.
Số lƣợng các đơn vị HTX tuy tăng không nhiều, nhƣng đã từng bƣớc đƣợc củng cố về chất, lấy lại uy tín và vai trò đối với ngƣời lao động, trên cơ sở đó phát triển và ngày càng thu hút các đối tƣợng khác nhau tham gia, không chỉ là ngƣời lao động nhƣ những năm trƣớc khi có luật.