CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP ĐỂ THỰC THI CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 1. Cơ sở lý luận chung về hợp tác xã nông nghiệp 1. Khái niệm về Hợp tác xã Ngày 23/9/1945, Đại hội Liên minh Hợp tác xã quốc tế (ICA) lần thứ 31 được tổ chức tại Manchester - Vương quốc Anh đã định nghĩa về Hợp tác xã như sau: “Hợp tác xã là hiệp hội hay là tổ chức tự chủ của cá nhân liên kết với nhau một cách tự nguyện nhằm đáp ứng các nhu cầu và nguyện vọng chung về kinh tế, xã hội và văn hóa thông qua một tổ chức kinh tế cùng nhau làm chủ chung và kiểm tra”. Trong bản khuyến nghị phát triển Hợp tác xã của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) được thông qua tại kỳ họp thứ 90, diễn ra và tháng 6 năm 2002 tại Geneve - Thụy Sỹ định nghĩa về Hợp tác xã: “Hợp tác xã là một tổ chức tự chủ của những người tình nguyện liên kết lại với nhau nhằm thỏa mãn những nhu cầu và mong muốn về kinh tế, văn hóa và xã hội thông qua việc thành lập một doanh nghiệp sở hữu tập thể, góp vốn bình đẳng, chấp nhận việc chia sẽ lợi ích và rủi ro, với sự tham gia tích cực của các thành viên trong điều hành và quản lý dân chủ”.
Cùng đó cũng có nhiều nước trên thế giới cũng đưa ra định nghĩa Hợp tác xã cho phù hợp với điều kiện nước mình. Ở Việt Nam, căn cứ vào tình hình, đặc điểm kinh tế - xã hội của đất nước và kế thừa những quy định của Luật Hợp tác xã năm 1996 và năm 2003; Luật Hợp tác xã năm 2012 định nghĩa: “Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý Hợp tác xã”. Luật Hợp tác xã năm 2012 đã kế thừa các quy định trước đây và tiếp tục khẳng định vai trò của kinh tế Hợp tác xã, là một tổ chức kinh tế mang tính cộng đồng và xã hội sâu sắc. Luật Hợp tác xã năm 2012 đã mở rộng hơn về đối tượng tham gia Hợp tác xã đó là cá nhân, hộ gia đình và pháp nhân.
Điều này cũng tạo điều kiện cho kinh tế Hợp tác xã phát triển về số lượng và mở rộng thêm nguồn vốn đầu tư, tham gia vào Hợp tác xã. Như vậy, Hợp tác xã hoạt động như một loại hình doanh nghiệp, có tư cách pháp nhân, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính trong phạm vi vốn điều lệ, vốn tích lũy và các nguồn vốn khác của Hợp tác xã theo quy định của pháp luật. Những nguyên tắc cơ bản của Hợp tác xã 1. Nguyên tắc tự nguyện Hoạt động Hợp tác xã là một hình thức quan hệ kinh tế hợp tác tự nguyện, phối hợp, hỗ trợ giúp đỡ lẫn nhau giữa các chủ thể kinh tế, kết hợp sức mạnh của từng thành viên với ưu thế sức mạnh tập thể giải quyết tốt hơn những vấn đề của sản xuất, kinh doanh và đời sống kinh tế, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và lợi ích của mỗi thành viên.
Người nông dân trên cơ sở lợi ích của mình mà hoàn toàn tự nguyện, tự quyết định việc gia nhập và ra khỏi các tổ chức kinh tế hợp tác. Nguyên tắc tự nguyện có vị trí hết sức quan trọng đối với kinh tế hợp tác vì chỉ có dựa trên sự tự nguyện của những người tham gia thì sự liên kết giữa những người tham gia với nhau mới là thực chất và do đó kinh tế hợp tác mới có cơ sở vững chắc để hình thành và tồn tại. Lênin luôn nhấn mạnh nguyên tắc tự nguyện và ngưòi coi tự nguyện là nguyên tắc tiên quyết của kinh tế hợp tác. Nguyên tắc cùng có lợi Theo nguyên tắc này lợi ích của các thành viên tham gia kinh tế hợp tác đều được đảm bảo.
Lợi ích kinh tế thiết thân là động lực, là căn cứ thúc đẩy các hộ nông dân tham gia các tổ chức kinh tế hợp tác. Đây là nguyên tắc cơ bản nhất có ý nghĩa quyết định nhất đối với kinh tế hợp tác. Nguyên tắc quản lý dân chủ Theo nguyên tắc này tổ chức và hoạt động của các đơn vị kinh tế hợp tác phải thực sự dân chủ. Tập thể thành viên của các tổ chức hợp tác phải là người quyết định mọi vấn đề về tổ chức và hoạt động của đơn vị hợp tác mà họ tham gia.
Nguyên tắc giúp đỡ của Nhà nước Để hình thành và phát triển kinh tế hợp tác thì không thể thiếu sự giúp đỡ của Nhà nước về tài chính, kỹ thuật… Tuy vậy do bản chất của kinh tế hợp tác mà sự giúp đỡ của Nhà nước phải tôn trọng các nguyên tắc trên thì sự giúp đỡ của Nhà nước mới phát huy hết tác dụng. Khái niệm Hợp tác xã nông nghiệp Theo cơ sở lý luận chung về Hợp tác xã và theo quy định của Luật Hợp tác xã hiện hành có thể hiểu “Hợp tác xã nông nghiệp là một tổ chức kinh tế tự chủ được các thành viên thành lập trên cơ sở tự nguyện, tiến hành các hoạt động sản xuất hoặc cung ứng các yếu tố phục vụ hoạt động sản xuất nhằm tạo ra các sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản để đáp ứng nhu cầu của các thành viên và xã hội”. Khái niệm phát triển Hợp tác xã nông nghiệp - Khái niệm về phát triển Trên thế giới nhiều nhà nghiên cứu khoa học xã hội cho rằng "phát triển là sự gia tăng kinh tế xã hội và làm tăng sự thịnh vượng của người dân" (Mc Nicoll và Cain, 2002); "phát triển là sự đáp ứng nhu cầu của con người" (Robert Mc Narama, 1986); "phát triển là cải thiện phúc lợi của con người, chất lượng cuộc sống, phúc lợi xã hội, đáp ứng nhu cầu và mong muốn của người dân" (Gro Harlem Brundtlant, 1987); "phát triển đề cập đến các biện pháp tăng trưởng kinh tế, phúc lợi xã hội và mức độ hiện đại hóa trong xã hội, văn hóa, quốc gia hoặc khu vực" (Keller, 2009). Như vậy phát triển là một quá trình tạo ra sự tăng trưởng, tiến bộ, thay đổi tích cực hoặc bổ sung các thành phần vật lý, kinh tế, môi trường, xã hội và nhân khẩu học.
Phát triển là mang lại sự thay đổi xã hội cho phép mọi người đạt được tiềm năng con người của họ. Sự phát triển bao gồm nhiều hơn những cải thiện về sức khỏe của công dân, thậm chí được định nghĩa rộng rãi nó cũng truyền tải một cái gì đó về năng lực của các hệ thống kinh tế, chính trị và xã hội để cung cấp các tình huống cho sự thịnh vượng bền vững, lâu dài. Mục đích của sự phát triển là sự gia tăng về mức độ và chất lượng cuộc sống của người dân, và tạo ra hoặc mở rộng cơ hội việc làm và thu nhập của khu vực địa phương mà không làm tổn hại đến tài nguyên và môi trường. - Phát triển hợp tác xã nông nghiệp Từ những luận giải về HTX NN và phát triển ở trên, trong Luận văn này, phát triển hợp tác xã trong nông nghiệp được hiểu là: Định hướng, mục tiêu, chiến lược, kế hoạch và các giải pháp để thúc đẩy sự thay đổi của tổ chức kinh tế hợp tác xã nông nghiệp theo hướng gia tăng về số lượng (HTX, thành viên tham gia, số lao động trong hợp tác xã), gia tăng về chất (năng lực nội tại, khả năng cạnh tranh) và nâng cao hiệu quả hoạt động, vai trò của HTX nông nghiệp (vai trò đối với xã hội, lợi nhuận ròng, bảo vệ môi trường).
Cơ sở pháp lý liên qua đến phát triển hợp tác xã nông nghiệp - Luật hợp tác xã số 23/2012/QH13 được Quốc hội thông qua ngày 20/11/2012, có hiệu lực từ ngày 01/7/2013. - Nghị định số 193/2013/NĐ-CP ngày 21 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Hợp tác xã năm 2012; Nghị định số 107/2017/NĐ-CP ngày 15 tháng 9 năm 2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 193/2013/NĐ-CP ngày 21 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Hợp tác xã 2012. 11 - Nghị định số 98/2018/NĐ-CP ngày 05 tháng 7 năm 2018 của Chính phủ về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp. - Nghị định số 40/2020/NĐ-CP ngày 06 tháng 4 năm 2020 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đầu tư công.
- Quyết định số 1804/QĐ-TTg ngày 13 tháng 11 năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình hỗ trợ phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã giai đoạn 2021 - 2025. - Quyết định số 167/QĐ-TTg ngày 03 tháng 02 năm 2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án lựa chọn, hoàn thiện, nhân rộng mô hình hợp tác xã kiểu mới hiệu quả tại các địa phương trên cả nước giai đoạn 2021 - 2025. - Quyết định số 340/QĐ-TTg ngày 12 tháng 3 năm 2021 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt chiến lược phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã giai đoạn 2021 - 2030. Xây dựng nông thôn mới, mối quan hệ giữa phát triển hợp tác xã nông nghiệp với xây dựng nông thôn mới 1.
Xây dựng nông thôn mới Xây dựng NTM là một chủ trương lớn của Việt Nam, nó được khởi xướng trong công cuộc Đổi mới đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo và tổ chức thực hiện. Nghị quyết số 26-NQ/TW được Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X ban hành vào tháng 8 năm 2008, xác định mục tiêu của xây dựng NTM là không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân cư khu vực nông thôn, hài hoà giữa các vùng, tạo sự chuyển biến nhanh hơn ở các vùng còn nhiều khó khăn; nông dân được đào tạo có trình độ sản xuất ngang bằng với các nước tiên tiến trong khu vực và đủ bản lĩnh chính trị, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới. Xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hoá lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia cả trước mắt và lâu dài.