Chương 1: Cơ sở lí luận về hoạt động môi giới và phát triển hoạt động môi giới tại công ty chứng khoán Chương 2: Thực trạng phát triển hoạt động môi giới tại Công ty Cổ phần Chứng khoán SSI Chương 3: Giải pháp phát triển hoạt động môi giới tại Công ty Co phần Chứng khoán SSI CHUONG 1: CO SỞ LÍ LUẬN VE HOAT DONG MOI GIỚI VÀ PHÁT TRIEN HOAT DONG MOI GIOI TAI CONG TY CHUNG KHOAN 1.Khái quát về công ty chứng khoán 1.Khái niệm, đặc điểm của công ty chứng khoán 1.11, Khái niệm Thị trường chứng khoán (TTCK) là một phần hết sức quan trọng của thị trường tài chính, TTCK được hiểu đơn giản là nơi mua bán và trao đổi các chứng khoán trung và dài hạn. Việc trao đôi, mua bán này thường được tiến hành trên thi trường sơ cấp và thứ cấp theo các quy tắc ấn định trước. Nhờ có TTCK mà nền kinh tế có thé huy động vốn đầu tư một cách hiệu quả giúp luân chuyển vốn từ những nguôn tiết kiệm nhỏ tập trung thành nguồn vốn lớn tài trợ cho các doanh nghiệp và Chính phủ để hoạt động, mở rộng sản xuất; ngoài ra, TTCK còn cung cấp khả năng thanh khoản cho chứng khoán và môi trường đầu tư cho các cá nhân trong nền kinh tế. Hiện nay, TTCK ngày càng phát triển đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế, chính vì vậy công ty chứng khoán (CTCK) — mắt xích không thé thiếu của TTCK ngày càng được công chúng quan tâm và biết đến nhiều hơn.
Khái niệm về CTCK có thể có nhiều cách tiếp cận khác nhau. Theo giáo trình “ Thị trường chứng khoán”, của trường Đại học Kinh tế Quốc dân, CTCK là “một định chế tài chính trung gian thực hiện các nghiệp vụ trên thị trường chứng khoán” Có 2 loại hình thức cơ bản của CTCK là công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cô phần. Theo quyết định của UBCKNN số 04/1998/QĐ-UBCK3 quy định “công ty chứng khoán là công ty cô phần hoặc công ty TNHH thành lập hợp pháp tại Việt Nam, được UBCKNN cấp giấy phép thực hiện một hoặc một số các loại hình kinh doanh chứng khoán”. Do công ty cổ phần có nhiều ưu điểm nên chủ yếu các CTCK tôn tại dưới hình thức công ty cô phan.
Đặc điểm của công ty chứng khoán Thứ nhất, đặc điểm về vốn: Đối với các loại hình doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hàng hóa thì nhà nước không có quy định về vốn nhưng đối với các doanh nghiệp là trung gian tài chính như ngân hàng, bảo hiểm hay CTCK thì đều có luật quy định về số vốn điều lệ. Ở các nước khác nhau sẽ có quy định khác nhau về số vốn điều lệ dé thành lập CTCK, hoặc có số vốn quy định theo từng hình thức kinh doanh cụ thể, ví dụ theo “Luật Chứng khoán Việt Nam”: tự doanh chứng khoán cần số vốn tối thiểu là 100 tỷ đồng, môi giới chứng khoán là 25 tỷ đồng, đối với tư vấn đầu tư chứng khoán cần 10 tỷ đồng tiền vốn và cao nhất là bảo lãnh phát hành chứng khoán cần 165 tỷ đồng vốn tối thiểu. Đây chính là đặc điểm quan trọng nhất dé xác định xem CTCK có thé được phép hoạt động nghiệp vụ nào trên thị trường, ngoài ra đặc điểm này sẽ giúp bảo vệ các nhà đầu tư khi giao dịch thông qua CTCK. Thứ hai, đặc điểm về đội ngũ nhân sự: Vì đây là ngành nghề phức tạp, ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế, đòi hỏi đội ngũ nhân sự phải có trình độ chuyên môn cao.
Theo Thông tư 197/2015/TT-BTC của Bộ Tài chính về “Quy định về hành nghề chứng khoán”: “ Người hành nghề chứng khoán là người được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cấp chứng chỉ hành nghề chứng khoán và đang làm việc tại công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, công ty đầu tư chứng khoán”. Thứ ba, đặc điểm về ban lãnh đạo: Không chỉ đội ngũ nhân viên mà ban lãnh đạo của các CTCK cũng cần có năng lực chuyên môn cao, có nhiều kinh nghiệm trong hoạt động chứng khoán, cụ thé “Giám đốc (Tổng Giám đốc) công ty chứng khoán phải đáp ứng các tiêu chuẩn sau: Có kinh nghiệm chuyên môn trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, chứng khoán ít nhất ba (03) năm và có kinh nghiệm quản lý điều hành tối thiểu ba (03) năm; Có chứng chỉ hành nghề phân tích tài chính hoặc Chứng chỉ hành nghề quản lý quỹ”, theo Thông tư 210/2012/TT-BTC về “Hướng dẫn về thành lập và hoạt động công ty chứng khoán”. Thứ tư, đặc điểm về cơ sở vật chất: Theo luật quy định CTCK phải có đầy đủ trang thiết bị kĩ thuật đề phục vụ cho hoạt động của CTCK là kinh doanh chứng khoán. Cụ thể, CTCK cần phải có mặt bằng đặt trụ sở của công ty, sàn giao dịch với bảng giá điện tử, các phòng ban của CTCK với đầy đủ hệ thống trang thiết bị, hệ thống dự phòng cũng như các hệ thống về lưu trữ thông tin và bảo mật.
Thứ năm, đặc điểm về sự xung đột lợi ích về quyền lợi giữa CTCK và khách hàng: So với các ngành nghề kinh doanh khác luôn đặt lợi ích của khách hàng lên hàng đầu và không hề có mâu thuẫn về lợi ích, thì ngành nghề về chứng khoán lại có xung đột lợi ích giữa người cung cấp dịch vụ và người sử dụng dịch vụ. Những hoạt động của CTCK có thé dẫn đến việc xung đột lợi ích là hoạt động môi giới, tư doanh chứng khoán hay đầu tư chứng khoán. Chức năng, vai trò của công ty chứng khoán CTCK là một trong những trung gian tài chính quan trong của TTCK nói riêng và nền kinh tế nói chung. CTCK góp phần quan trọng trong việc lưu thông chứng khoán từ nhà phát hành đến nhà đầu tư, không chỉ có vậy CTCK còn giúp tăng tính thanh khoản, luân chuyển vốn nhàn rỗi từ nơi thừa vốn sang nơi thiếu vốn, góp phần tăng trưởng kinh tế.
Chức năng của công ty chứng khoán Thứ nhất, CTCK giúp luân chuyển vốn từ người thừa vốn sang người cần vốn. Thực tế các nhà đầu tư khi có cơ hội đầu tư thường không có đủ vốn vì vậy, họ sẽ tìm đến các kênh huy động vốn như vay nợ, phát hành trái phiếu hoặc huy động vốn trên sàn chứng khoán. Nguồn tiền vay nợ thường có chỉ phí lãi vay cao sẽ bào mòn hết lợi nhuận của doanh nghiệp, ngoài ra thủ tục vay còn nhiều khó khăn vướng mắc. Do đó kênh huy động vốn qua các loại chứng khoán như trái phiếu, cô phiếu tỏ ra được ưu chuộng hơn.
CTCK nhờ hoạt động phát hành cũng như bảo lãnh phát hành của mình, sẽ giúp các công ty tiếp cận với NĐT dễ dàng, thuận tiện hơn. Thứ hai, CTCK cung cấp cơ chế giá cho các giao dịch. Ví dụ, thông qua bảng giá điện tử bao gồm giá mua, giá bán và các khối lượng giao dịch, các CTCK sẽ là đầu mối giúp các giao dịch được khớp lệnh trên thị trường. Thứ ba, CTCK góp phan tạo tính thanh khoản trên thị trường.
Các loại chứng khoán sẽ được chuyền đổi thành tiền mặt một cách nhanh chóng, dé dang theo các quy chế hiện hành. Cụ thé, hiện nay ở TTCK Việt Nam ngày thanh toán tiền mua chứng khoán sẽ là T+2 tức là sau hai ngày từ ngày giao dịch khớp lệnh. Ngược lại, khi NDT muốn bán chứng khoán dé thu tiền về thì tiền cũng sẽ về tài khoản của nhà đầu tư tại CTCK sau 2 ngày thực hiện giao dịch bán. Thứ tư, CTCK có chức năng điều tiết và bình ổn thị trường.
Ngoài là trung gian tài chính giữa nha đầu tư và các doanh nghiệp, CTCK còn có thé tự doanh như một nhà đầu tư trên thị trường, và thông thường các CTCK có tiềm lực lớn, giao dịch quy mô rộng do vậy tác động đến cung cầu thị trường là khá đáng kẻ. Vai trò của công ty chứng khoán Vai trò của CTCK trong nền kinh tế là không thể phủ nhận, ngoài ra đối với các chủ thé khác nhau CTCK lại thé hiện những vai trò khác nhau của mình: s* Đối với các doanh nghiệp, tổ chức phát hành Khi bắt đầu tham gia TTCK các doanh nghiệp hay các tổ chức kinh tế đều có mong muốn huy động được nguồn vốn tối đa trên thị trường để hỗ trợ hoạt động sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên theo quy định của Việt Nam các nhà phát hành không được giao dịch trực tiếp với những người đầu tư góp vốn mà phải thông qua các tô chức trung gian. CTCK là một trong những trung gian tài chính có vai tro quan trọng trong TTCK, và khi thực hiện hoạt động nay, CTCK đã góp phan điều tiết vốn trong nền kinh tế Đối với các nhà đầu tư Các NDT trên TTCK có nhiều cấp độ, có thé là NBT cá nhân, NDT tổ chức hay NĐT nước ngoài do vậy không phải NĐT nào cũng có đủ năng lực cũng như thông tin để đưa ra quyết định đầu tư một cách đúng đắn.
Vì vậy, CTCK thông qua các hoạt động như môi giới, tư vấn sẽ giúp các NĐT tiếp cận được những cơ hội đầu tư sớm nhất. % Đối với thị trường chứng khoán CTCK có hai vai trò chính đối với TTCK, đó là: Thứ nhất, CTCK giúp xác định giá cả, điều tiết thị trường: Chứng khoán cũng là một loại hàng hóa đặc biệt vì vậy giá cả sẽ được xác định theo cung cầu của thị trường. Người mua đặt ra mức ra mua, bán nhưng không thể quyết định được giá khớp lệnh mà phải thông qua CTCK. Do CTCK là thành viên của thị trường nên CTCK có vai trò xác lập giá.
Ngoài ra vì lợi ích của các khách hàng của mình các CTCK sẽ tham gia vào thị trường thông qua hoạt động tự doanh dé điều tiết, bình 6n thị trường. Thứ hai, CTCK góp phan tạo ra tính thanh khoản của tài sản chứng khoán. Các CTCK làm trung gian tài chính giúp NDT mua bán chứng khoán một cách dễ dàng cũng như giúp chuyên đôi chứng khoán thành tiền một cách nhanh chóng. s* Đối với cơ quản quản lý thị trường Đúng như chức năng là trung gian tài chính, CTCK cũng hỗ trợ rất nhiều cho các nhà quản lý thị trường trong việc cung cấp thông tin mở tài khoản, thông tin giao dịch, thông tin về các loại chứng khoán, thông tin về khách hàng hay doanh nghiệp,.
để tránh các thông tin sai lệch bóp méo hay sai phạm trong TTCK. CTCK thực hiện vai trò này do CTCK là người bảo lãnh cho các cổ phiếu mới phát hành và trung gian giao dịch mua bán chứng khoán. Tóm lại, vai trò của CTCK là rất to lớn trong nền kinh tế cũng như TTCK.