Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN ĐẾN VIỆC PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. TỔNG QUAN VỀ NHTM VÀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NHTM 1. Ngân hàng thương mại và chức năng của NHTM a. Ngân hàng thương mại Hiện nay có rất nhiều khái niệm về ngân hàng thương mại, chẳng hạn như: - Theo từ điển kinh tế tài chính ngân hàng thì “Ngân hàng thương mại là tổ chức chịu sự điều tiết về luật lệ của một nước hoặc pháp luật của một nước và thuộc sở hữu của các cổ đông.
Ngân hàng có nhiệm vụ thu nhận tiền gửi không kỳ hạn, cấp tín dụng và một số dịch vụ tài chính” [13]. - Theo cuốn “Quản trị ngân hàng thương mại” của tác giả Peter S.Rose cho rằng: “ Ngân hàng là hình thức tổ chức tài chính cung cấp danh mục các dịch vụ về tài chính đa dạng nhất, đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và ngân hàng thương mại với chức năng trung gian huy động nguồn vốn nhàn rỗi để cho vay đã làm tiết kiệm thời gian và công sức của những người muốn vay vốn phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh” [17]. - Theo Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 do Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 16/06/2010: “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận” [12]. Như vậy có thể nói rằng NHTM là một loại định chế tài chính trung gian cực kỳ quan trọng trong nền kinh tế thị trường.
Nhờ hệ thống định chế tài chính trung gian này mà các nguồn tiền nhàn rỗi nằm rải rác trong xã hội sẽ Luan van 5 được huy động, tập trung lại số lượng đủ lớn để cấp tín dụng cho các tổ chức kinh tế, cá nhân nhằm mục đích phục vụ phát triển kinh tế-xã hội. Chức năng của ngân hàng thương mại - Chức năng trung gian thanh toán: Ngân hàng làm chức năng trung gian thanh toán khi nó thực hiện yêu cầu của khách hàng như trích một khoảng tiền trên tài khoản tiền gửi để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào một khoản tiền gửi của khách hàng từ bán hàng hóa hoặc các khoản thu khác. Ngân hàng thực hiện chức năng trung gian thanh toán làm cho nó trở thành thủ quỹ của khách hàng. Việc nhận tiền gửi và theo dõi các khoản thu, chi trên tài khoản tiền gửi của khách hàng làm cho ngân hàng thực hiện được vai trò trung gian thanh toán.
Trên thực tế, khi việc thanh toán trực tiếp giữa các chủ thể kinh tế bằng tiền mặt gặp nhiều hạn chế về rủi ro cao, do phải tập hợp, kiểm tra, vận chuyển làm cho chi phí thanh toán cao mà lại thiếu chính xác và an toàn, đặc biệt là khi hai đơn vị này cách xa nhau, điều kiện này tạo thêm nhu cầu và gia tăng khối lượng thanh toán qua ngân hàng. Trong chức năng trung gian thanh toán, ngân hàng thực hiện các nhiệm vụ cụ thể sau: đó là: Mở tài khoản tiền gửi giao dịch cho khách hàng.; Quản lý và cung cấp các phương tiện thanh toán cho khách hàng; Tổ chức và kiểm soát quy trình thanh toán giữa các khách hàng. - Chức năng cung ứng dịch vụ ngân hàng: Đó là việc cung ứng cho khách hàng các dịch vụ ngân hàng, mà các dịch vụ đó chỉ các ngân hàng với ưu thế của nó mới thực hiện trọn vẹn, đầy đủ và các dịch vụ. Các dịch vụ ngân hàng không những cho phép NHTM thực hiện tốt yêu cầu của khách hàng, mà còn hỗ trợ tích cực để NHTM thực hiện tốt các chức năng trên.
Dịch vụ ngân hàng không chỉ đơn thuần là giúp cho NHTM hưởng hoa hồng và dịch vụ phí, yếu tố làm tăng doanh thu và lợi nhuận cho ngân hàng mà dịch vụ ngân hàng còn có tác dụng hỗ trợ các mặt hoạt động chính của NHTM mà Luan van 6 trước hết là hoạt động tín dụng. Các dịch vụ có liên quan đến hoạt động ngân hàng đó là: Dịch vụ ngân quỹ và chuyển tiền nhanh quốc nội; dịch vụ kiều hối và chuyển tiền nhanh quốc tế; dịch vụ ủy thác (bảo quản, thu hộ, chi hộ, mua bán hộ…); dịch vụ tư vấn đầu tư, cung ứng thông tin… - Chức năng trung gian tín dụng: Đây là chức năng đặc trưng và cơ bản nhất của NHTM và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Trung gian tín dụng là “cầu nối” giữa cung và cầu vốn trong xã hội, khơi nguồn vốn từ những người có thể vì lý do gì đó không dùng nó một cách sinh lời sang những người có ý muốn dùng nó để sinh lời. Thực hiện chức năng này, một mặt NHTM huy động và tập trung các nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi của các chủ thể trong nền kinh tế để hình thành nguồn vốn cho vay; mặt khác, trên cơ sở của vốn đã huy động được, ngân hàng cho vay để đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng.
của các chủ thể kinh tế, góp phần đảm bảo sự vận động liên tục của guồng máy kinh tế xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Như vậy với chức năng này, NHTM vừa đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là người cho vay và hưởng lợi nhuận và khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia. Với chức năng trung gian tài chính, NHTM thực hiện những nhiệm vụ cụ thể sau: + Huy động các nguồn vốn từ các chủ thể tiết kiệm, có vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế: Nhận tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn của các tổ chức kinh tế, các tổ chức xã hội, cá nhân dưới hình thái tiền tệ (nội tệ và ngoại tệ); Nhận tiền gửi tiết kiệm của các tổ chức và cá nhân; Phát hành kỳ phiếu ngân hàng để huy động vốn trong xã hội; các loại hình huy động khác + Cấp tín dụng đầu tư đáp ứng nhu cầu về vốn cho các chủ thể trong nền kinh tế xã hội: Cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn đối với các tổ Luan van 7 chức kinh tế, cá nhân; Chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá; Bảo lãnh, bao thanh toán, cho vay thấu chi; Cho vay tiêu dùng, cho vay sản xuất kinh doanh, cho vay tài trợ xuất nhập khẩu, cho vay mua sữa chữa nhà ở, cho vay tài trợ du học.và các hình thức cho vay khác. Thông qua chức năng trung gian tín dụng NHTM góp phần tạo lợi ích cho tất cả các chủ thể kinh tế tham gia và lợi ích chung của cả nền kinh tế.
+ Đối với người gửi tiền: Thông qua cơ chế huy động vốn của ngân hàng đã tập hợp các khoản vốn tạm thời nhàn rỗi và tạo ra thu nhập cho những người gửi tiền dưới hình thức lãi tiền gửi. Đồng thời, ngân hàng cũng đảm bảo an toàn cho các khoản tiền gửi và cung cấp cho khách hàng những dịch vụ thanh toán tiền lợi. + Đối với người vay: Họ sẽ thỏa mãn được nhu cầu về vốn để kinh doanh, chi tiêu, thanh toán mà không phải tiêu tốn nhiều chi phí về sức lực, thời gian cho việc tìm kiếm nơi cung ứng vốn tiện lợi, chắc chắn và hợp pháp. + Đối với nền kinh tế: Việc cung cấp tài chính cho các doanh nghiệp đã khuyến khích sản xuất, tạo thêm việc làm, tăng sản lượng và giảm nhập khẩu hàng hóa.
Mặc khác, việc điều tiết vốn trong khu vực dân cư góp phần tăng thu nhập và khuyến khích tăng nhu cầu tiêu dùng hàng hóa và điều này sẽ giúp cho việc tăng cường sản xuất. Như vậy, với chức năng này ngân hàng đã biến vốn nhàn rỗi không hoạt động thành vốn hoạt động, kích thích quá trình luân chuyển vốn, thúc đẩy sản xuất kinh doanh. Hoạt động cho vay của NHTM a. Khái niệm về cho vay Theo Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 do Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 16/06/2010:“Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng Luan van 8 một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi” [12].
Hay có thể hiểu cho vay như sau: Cho vay là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu sang người sử dụng để sau một thời gian nhất định người sở hữu thu về một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu. Đối với NHTM, cho vay là một hoạt động tín dụng của ngân hàng nhằm thực hiện điều hòa vốn trong nền kinh tế dưới hình thức phân phối nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi để đáp ứng nhu cầu về vốn phục vụ sản xuất kinh doanh và đời sống. Các hình thức cho vay của NHTM - Căn cứ vào mục đích: Dựa vào căn cứ này cho vay được chia thành 2 loại đó là: Cho vay kinh doanh là hình thức cho vay của ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu vốn kinh doanh cho các DN, HSX kinh doanh và cho vay tiêu dùng là loại cho vay của ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của hộ gia đình, cá nhân như chi tiêu thường xuyên, sửa chữa nhà cửa, mua sắm. - Căn cứ vào thời hạn cho vay: Dựa vào căn cứ này cho vay được chia thành 2 loại đó là: Cho vay ngắn hạn là khoản cho vay có thời hạn đến 12 tháng và được sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các DN, như cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân; Cho vay dài hạn là khoản cho vay có thời hạn từ 1 năm trở lên.
Ở Việt Nam hiện nay các khoản cho vay trên 1 đến 5 năm được gọi là cho vay trung hạn, các khoản cho vay có thời hạn trên 5 năm gọi là cho vay dài hạn.