phần mở đầu và kết luận thì đƣợc chia thành 3 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lý thuyết về phát triển hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp của ngân hàng thƣơng mại 5 Chƣơng 2. Thực trạng phát triển hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Ngoại thƣơng Việt Nam – Chi nhánh Tân Định Chƣơng 3. Giải pháp phát triển hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Ngoại thƣơng Việt Nam – Chi nhánh Tân Định 6 CHƢƠNG 1.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG CHO VAY KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. KHÁI NIỆM VỀ NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI Ngân hàng thƣơng mại (NHTM) là một loại hình ngân hàng thực hiện giao dịch trực tiếp với đối tƣợng KHCN, KH là các tổ chức thông qua việc nhận tiền tiết kiệm, tiền gửi để sử dụng nó cho vay, chiết khấu, cung cấp các phƣơng tiện thanh toán và dịch vụ ngân hàng cho các đối tƣợng trên (Hoàng, 2010). Hiện nay, số lƣợng NHTM đang chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế của các nƣớc, việc các NHTM phát triển là một trong những yếu tố góp phần thúc đẩy nền kinh tế, xã hội duy trì sự phát triển bền vững. Khó có thể hình thành đƣợc một định nghĩa cụ thể và chính xác về NHTM, nhƣng có một số định nghĩa đƣợc xem là chuẩn mực bởi nó căn cứ vào mục đích, tính chất và đối tƣợng của hoạt động: Ngân hàng thƣơng mại là một tổ chức tài chính trung gian, có thực hiện đăng ký kinh doanh tại nƣớc sở tại để thực hiện các hoạt động cho vay tiền, mở tài khoản tiền gửi và có thể thực hiện phát hành séc (Begg, 2007).
Theo Đạo luật Ngân hàng Pháp vào năm 1941 thì định nghĩa NHTM là tổ chức dƣới hình thức cơ sở hành nghề thƣờng xuyên nhận từ công chúng các khoản tiền dƣới hình thức ký gửi hoặc các hình thức khác và từ số tiền này ngân hàng thƣơng mại thực hiện các nghiệp vụ quan trọng nhƣ cho vay, chiết khấu, v. Theo (Luật các tổ chức tín dụng, 2010) định nghĩa rằng: “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Nhìn chung, các định nghĩa về NHTM luôn nhấn mạnh về việc họ là một tổ chức tài chính trung gian, là nơi thu hút nguồn vốn nhàn rỗi từ các đối tƣợng KH để sử dụng nguồn vốn này thực hiện cấp tín dụng, cung cấp các dịch vụ ngân hàng nhằm mục đích thu lại lợi nhuận một cách tốt nhất. 7 Từ những khái quát trên, có thể thấy NHTM là một loại hình DN đặc biệt có vai trò cực kỳ quan trọng trong nền kinh tế, bởi nó vận hành theo quy luật của nền kinh tế và là một chất xúc tác giúp toàn bộ nền kinh tế hoạt động một cách thuận lợi nhất.
Nhờ có tổ chức tài chính trung gian này mà nguồn tiền nhàn rỗi của các đối tƣợng đƣợc luân chuẩn giúp đáp ứng nhu cầu vốn cho các cá nhân, tổ chức. TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm Một trong những hoạt động cơ bản và lâu đời nhất của NHTM là hoạt động cho vay khách hàng, đây luôn là hoạt động chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng tài sản và tạo ra một nguồn thu nhập lớn cho kết quả kinh doanh của các NHTM.
Đi đôi với lợi ích đƣợc nhận từ hoạt động nhƣ trên thì đây cũng là hoạt động tồn tại nhiều rủi ro nhất. Theo Giáo trình quản trị NHTM của TS.Bùi Diệu Anh, Hồ Diệu và Lê Thị Hiệp Thƣơng (2011) cho rằng cho vay là một hoạt động giao dịch thể hiện mối quan hệ tài sản giữa bên đi vay và cho vay, trong đó bên cho vay sẽ chuyển giao tài sản cho bên đi vay để sử dụng trong một khoảng thời gian đƣợc thỏa thuận trong hợp đồng, sau khi khoảng thời gian này hết hạn thì bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả cả gốc và lãi cho bên cho vay và kết thúc hợp đồng cho vay (Anh, Diệu, & Thƣơng, 2011). Theo (Rose, 2004), cho vay là chức năng kinh tế hàng đầu của Ngân hàng, đây là hoạt động tài trợ cho các đối tƣợng KH khác nhau (DN, cá nhân, cơ quan chính phủ, v. Tình hình phát triển của nền kinh tế là một trong những nhân tố tác động đến hoạt động cho vay, đồng thời nhờ hoạt động cho vay mà hệ thống ngân hàng có thêm thông tin về chất lƣợng tín dụng của từng KH, giúp cho NHTM có khả năng nhận thêm các khoản vay với chi phí thấp hơn.
Nhìn chung, cho vay KHDN là một hình thức cấp tín dụng mà trong đó NHTM đóng vai trò là tổ chức chuyển nhƣợng quyền sử dụng vốn của mình cho KH là các DN để khách hàng sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định, và sau đó 8 hoàn trả cả gốc và lãi với mục đích phục vụ sản xuất kinh doanh hoặc một mục tiêu cụ thể nào đó nằm trong chính sách của ban điều hành DN. Đặc điểm cho vay khách hàng doanh nghiệp Để có một cái nhìn khái quát về nghiệp vụ CVDN, có thể xem xét đến một số đặc điểm sau của hoạt động này: Thứ nhất, về phân loại KHDN: tại các NHTM phân loại đối tƣợng KHDN theo nhiều tiêu chuẩn khác nhau nhƣ: địa bàn hoạt động, quy mô hoạt động, ngành nghề kinh doanh. Thế nhƣng, hiện nay trong hệ thống các NHTM tại Việt Nam phân KHDN ra thành hai đối tƣợng chủ yếu là: KHDN nhỏ và vừa (KH DNNVV), KHDN lớn. Đối với đối tƣợng KHDN lớn chƣa có một khái niệm hay một cách phân loại cụ thể nào đƣợc đề ra, thế nhƣng theo các NHTM thì đối tƣợng này là các KH không nằm trong phân loại KH DNNVV theo nghị định của chính phủ.
Theo nghị định 39/2018/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 11/03/2018, KH DNNVV đƣợc phân loại theo các lĩnh vực kinh doanh nhƣ sau: Bảng 1. Tiêu chuẩn phân loại DNNVV theo Nghị định Chính phủ Doanh nghiệp Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa siêu nhỏ Tổng Tổng Tổng Số Số Số Ngành nguồn vốn nguồn vốn nguồn vốn lượng lượng lượng (NV) hoặc (NV) hoặc (NV) hoặc lao lao lao doanh thu doanh thu doanh thu động động động (DT) năm (DT) năm (DT) năm Nông – lâm DT DT – ngƣ nghiệp tỷ tỷ đồng tỷ đồng và công ngƣời đồng ngƣời NV ngƣời NV nghiệp xây tỷ đồng tỷ đồng dựng DT DT DT Thƣơng mại tỷ đồng tỷ tỷ đồng dịch vụ ngƣời ngƣời ngƣời NV tỷ đồng NV 9 đồng NV tỷ đồng tỷ đồng (Nguồn: Nghị định 39/2018/NĐ-CP của Chính phủ ngày 11/03/2018) Thứ hai, quy định về hạn mức cho vay: tùy theo đối tƣợng KHDN mà áp dụng một hạn mức cụ thể. Bên cạnh đó, quy mô khoản vay còn căn cứ vào chu kỳ kinh doanh của DN, mục đích vay vốn, dƣ nợ đang có của DN ở thời điểm vay, v. Thứ ba, mục đích vay vốn: DN thƣờng vay vốn tại NHTM với mục đích bổ sung hoặc gia tăng vốn lƣu động, mở rộng quy mô DN, mua sắm TSCĐ hay nguyên vật liệu phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, tài trợ cho một dự án nào đó sắp đƣợc thực hiện trong tƣơng lai (Khiêm, 2021).
Thứ tư, một trong những đặc điểm dễ nhận thấy nhất của CVDN là chứa đựng nhiều rủi ro, bởi đây là hoạt động chịu nhiều ảnh hƣởng từ các tác nhân bên trong lẫn bên ngoài DN, đặc biệt là sự tác động của quy luật cung cầu, sự cạnh tranh trong kinh doanh (Hoàng, 2010). Do đó, dù đây là đối tƣợng tiềm năng của các ngân hàng thế nhƣng họ vẫn chƣa đẩy mạnh việc khai thác đối tƣợng này thay vào đó các ngân hàng thƣờng lựa việc phát triển đối với đối tƣợng KHCN hay đối tƣợng KH nhỏ lẻ (dịch vụ ngân hàng bán lẻ). Thứ năm, số lƣợng KHDN có quan hệ tín dụng tại NH chiếm tỷ trọng thấp trong tổng số lƣợng KH nhƣng về tổng dƣ nợ thì KHDN lại chiếm ƣu thế hơn các đối tƣợng KH bán lẻ. Điều này cũng dễ hiểu, mặc dù số lƣợng KHDN ngày càng gia tăng, thế nhƣng vẫn không thể cao bằng số lƣợng KHCN kéo theo việc vay vốn tại các ngân hàng cũng ít hơn (Thắm, 2017).
Song về dƣ nợ, một khoản vay của KHDN thƣờng có quy mô lớn hơn KHCN nhiều lần, bởi họ cần vốn cho kinh doanh hay đầu tƣ dự án. Thứ sáu, về vấn đề khai thác thông tin: KHDN muốn thực hiện vay vốn tại các NHTM thì phải cung cấp các hồ sơ một cách đầy đủ, chi tiết cho bộ phận tín dụng, đây là những hồ sơ đã đƣợc Sở kế hoạch và đầu tƣ tại các địa phƣơng công nhận và chịu sự quản lý của các cơ quan nhà nƣớc (Tiến, 2011). Bên cạnh đó, để có thể phục vụ cho quá trình thu thuế, nhà nƣớc cũng đã có quy định về chế độ kế toán, kiểm toán của các DN hằng năm. Do đó, với sự kiểm chứng của các cơ quan, tổ chức đã tạo nên sự tin cậy tốt hơn so với việc cho vay KHCN.
10 Thứ bảy, về chi phí mà các NHTM phải bỏ ra đối với cho vay KHDN thƣờng cao hơn so với KHCN, bởi rủi ro của đối tƣợng KH này cao hơn, quy trình thẩm định, giải ngân và theo dõi khoản vay kéo dài, tốn kém chi phí hơn (Ánh, 2022). Song, nguồn trả nợ của KHDN sẽ biến động theo thời gian bởi các khoản vay chủ yếu phục vụ cho nhu cầu kinh doanh, do đó việc thu hồi nợ là không chắc chắn trong tƣơng lai (Thắm, 2017). Vai trò của cho vay khách hàng doanh nghiệp Đối với DN: nhờ sự cung cấp, hỗ trợ về nguồn vốn mà DN có thể duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh của mình cũng nhƣ mở rộng phát triển quy mô, thực hiện dự án mới và từ đây nâng cao vị thế cũng nhƣ khả năng cạnh tranh của DN trong ngành. Đồng thời, việc vay vốn còn giúp các DN tạo đòn bẩy tài chính, sử dụng nợ vay làm lá chắn thuế giúp cho lợi nhuận của DN ổn định và thu hút nhà đầu tƣ.
Đối với ngân hàng: trong nghiệp vụ cấp tín dụng thì hoạt động CVDN luôn chiếm tỷ trọng rất lớn về dƣ nợ, điều này góp phần mang lại lợi nhuận khá cao và ổn định cho ngân hàng. Bên cạnh đó, trong CVDN thì các ngân hàng còn thực hiện thúc đẩy việc bán hàng, từ đây tạo ra cho ngân hàng thêm một nguồn thu tiềm năng.