chương 1 đã đề cập đến tính cấp thiết của đề tài và mục tiêu nghiên cứu mà tác giả xác định cần hướng đến để giải quyết. Để đạt được những mục tiêu nghiên cứu đặt ra tác giả hướng đến trả lời những câu hỏi nghiên cứu tương ứng về cơ sở lý thuyết cho hoạt động cho vay tại các NHTM; thực trạng hoạt động cho vay đối với khách hàng DNNVV tại BIDV – CN Bình Điền Sài Gòn và các giải pháp và kiến nghị cần thiết nhằm phát triển hoạt động cho vay đối với DNNVV tại chi nhánh ngân hàng. Ngoài ra, đề tài được thực hiện bằng cách tiến hành khảo sát khách hàng DNNVV đang vay vốn tại đơn vị để đánh giá về dịch vụ của cho vay DNNVV. Cuối cùng, dựa trên những kết quả nghiên cứu đạt được, tác giả nêu lên những đóng góp chính của luận văn.
6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG CHO VAY DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2. Cơ sở lý luận về tín dụng và hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại 2.1 Khái niệm và vai trò hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại Trước khi tìm hiểu về hoạt động cho vay, nghiên cứu đề cập khái quát về tín dụng. Tín dụng xuất phát từ gốc chữ La tinh: Credittum - tức là tin tưởng, tín nhiệm; tín dụng được diễn giải theo ngôn ngữ dân gian Việt Nam là sự vay mượn. Trong thực tế cuộc sống, thuật ngữ tín dụng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau.
Theo Quốc hội (2010), “cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”. Còn nếu hiểu tín dụng theo chức năng hoạt động của ngân hàng thì tín dụng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay (ngân hàng, các định chế tài chính khác) và bên đi vay (các cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán. Định nghĩa về tín dụng được đề cập đến trong Luật các TCTD (2010), trong đó, hoạt động cho vay được định nghĩa là “hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi” (Quốc hội, 2010).2 Vai trò của tín dụng ngân hàng nói chung - Tín dụng góp phần thúc đẩy hoạt động sản xuất phát triển: việc sản xuất này không chỉ đáp ứng riêng cho một đối tượng khách hàng mà là cho cả khối khách hàng doanh nghiệp hoặc đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng của khách hàng cá nhân, bởi để có 7 thể mở rộng kinh doanh và tiêu dùng thì yêu cầu về nguồn vốn là một trong những mối quan tâm hàng đầu được đặt ra. Đặc biệt, doanh nghiệp không thể tồn tại, phát triển và tăng trưởng nếu chỉ dựa vào nguồn vốn tự có của họ, mà họ cần tìm kiếm và kêu gọi đầu tư từ nhiều nguồn khác nhau, trong đó có vốn vay của NHTM.
Với chức năng trung gian tài chính, tín dụng của NHTM đã giúp cho các doanh nghiệp nhanh chóng đầu tư mở rộng sản xuất, vừa góp phần đẩy nhanh tốc độ tập trung và tích lũy vốn cho nền kinh tế (Lê Văn Tề 2010; Nguyễn Đăng Dờn 2010). - Góp phần ổn định tiền tệ và ổn định giá cả: với chức năng tập trung và tận dụng những nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội, tín dụng ngân hàng đã trực tiếp giảm khối lượng tiền mặt trong lưu thông. Đây là xu hướng chung của các quốc gia trên thế giới, khi họ đã đưa vào sử dụng các công nghệ trong việc thanh toán các giao dịch của nền kinh tế. Nếu không tận dụng nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế, thì tình trạng lưu thông tiền tệ mất cân đối sẽ xãy ra, từ đó ảnh hưởng đến quan hệ hàng - tiền và hệ thống giá cả của quốc gia.
Do đó, trong điều kiện nền kinh tế bị lạm phát, tín dụng được xem như là một trong những biện pháp hữu hiệu góp phần làm giảm lạm phát của một quốc gia (Lê Văn Tề, 2010). - Hoạt động tín dụng ngân hàng đáp ứng cho nhu cầu sản xuất và tăng trưởng kinh doanh của các doanh nghiệp cũng như phục vụ nhu cầu tiêu dùng đa dạng cho các tầng lớp dân cư. Trong nền kinh tế, ngoài các ngân hàng còn có hệ thống những tổ chức tín dụng sẵn sàng cung cấp vốn vay cho các cá nhân để phát triển kinh tế gia đình, mua sắm nhà cửa, tư liệu sinh hoạt, … nhằm mục đích cải thiện từng bước đời sống của nhân dân, tạo công ăn việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp, qua đó góp phần ổn định trật tự, xã hội (Lê Văn Tề, 2010).3 Các hình thức cho vay của ngân hàng thương mại Theo Quốc hội (2010), cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Cho vay là một phương thức cấp tín dụng phổ biến trong nền kinh tế.
Căn cứ vào thời hạn Tín dụng được chia làm 3 loại: - Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn đến một năm thường được sử dụng để cho vay bổ sung thiếu hụt tạm thời về vốn lưu động của các doanh nghiệp và cho vay phục vụ sinh hoạt tiêu dùng cá nhân. - Tín dụng trung hạn: là loại tín dụng có thời hạn từ trên 1 năm đến 5 năm, loại tín dụng này dùng để cho vay vốn phục vụ yêu cầu mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng và xây dựng các công trình nhỏ có thời gian thu hồi vốn nhanh. - Tín dụng dài hạn: là loại tín dụng có thời hạn từ 5 năm trở lên, được sử dụng để cung cấp vốn cho xây dựng cơ bản, cải tiến và mở rộng sản xuất với qui mô lớn, chẳng hạn như đầu tư xây dựng các xí nghiệp mới, các công trình cơ sở hạ tầng. Tín dụng trung, dài hạn được đầu tư để hình thành vốn cố định và một phần vốn tối thiểu cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Căn cứ vào mục đích cho vay - Cho vay bất động sản (BĐS): bao gồm các khoản cho vay xây dựng ngắn hạn và các khoản cho vay tài trợ dài hạn cho việc mua đất đai, nhà cửa, mua các tài sản cố định dài hạn. - Cho vay nông nghiệp: nhằm hỗ trợ nông dân trong hoạt động gieo trồng, canh tác, thu hoạch và bảo quản sản phầm. - Cho vay công nghiệp và thương mại: hỗ trợ các DN trang trải các chi phí trong hoạt động thương mại và sản xuất kinh doanh, như mua hàng hoá, trả thuế, mua đầu tư máy móc, nhà xưởng sản xuất… - Cho vay đối với các tổ chức tài chính: bao gồm các khoản tín dụng dành cho ngân hàng, công ty bảo hiểm, công ty tài chính và các tổ chức tài chính khác… 2. Căn cứ vào thời hạn cấp tín dụng 9 - Cho vay ngắn hạn: là loại cho vay này có thời hạn dưới 12 tháng và được sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân.
Đối với ngân hàng thương mại, tín dụng ngắn hạn chiếm tỷ trọng cao nhất. - Cho vay trung hạn: theo quy định hiện nay của ngân hàng nhà nước (NHNN) Việt Nam, cho vay trung hạn là khoản vay có thời hạn từ trên 12 tháng đến 60 tháng. Tín dụng trung hạn được sử dụng chủ yếu để mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất, kinh doanh, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh. Trong nông nghiệp, chủ yếu cho vay trung hạn để đầu tư vào các đối tượng sau: máy cày, máy bơm nước, xây dựng các vườn cây trồng công nghiệp như cà phê, điều, máy bơm điện… - Cho vay dài hạn: là loại cho vay có thời hạn cho vay trên 12 tháng.
Đây là loại tín dụng được cung cấp để đáp ứng nhu cầu dài hạn như xây dựng nhà ở, các thiết bị, phương tiện vận tải có quy mô lớn, xây dựng các xí nghiệp mới. Căn cứ vào mức độ tín nhiệm - Cho vay không đảm bảo: Là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba, mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng. Đối với những khách hàng tốt, trung thực trong kinh doanh, có khả năng tài chính mạnh, quản trị có hiệu quả thì ngân hàng có thể cấp tín dụng dựa vào uy tín bản thân của khách hàng mà không cần một nguồn thu nợ thứ hai bổ sung. - Cho vay đảm bảo: Là loại cho vay được ngân hàng cung ứng, phải có tài sản thế chấp hoặc cầm cố, hoặc có sự bảo lãnh của người thứ ba.
Đối với khách hàng không có uy tín cao đối với ngân hàng, khi vay vốn đòi hỏi phải có đảm bảo. Sự đảm bảo này là căn cứ pháp lý để ngân hàng có thêm một nguồn thu nợ thứ hai bổ sung cho nguồn thu nợ thứ nhất thiếu chắc chắn. Khái quát về doanh nghiệp nhỏ và vừa 2. Khái niệm về doanh nghiệp nhỏ và vừa OECD ước tính rằng các doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm 90% doanh nghiệp và sử dụng 63% lực lượng lao động trên thế giới (Munro, 2013).
Các DNNVV theo nghiên cứu dưới khía cạnh quy mô của doanh nghiệp, do đó các nhà kinh tế có xu hướng chia chúng thành các lớp theo một số chỉ tiêu đo lường định lượng. Tiêu chí phổ biến nhất để phân biệt giữa các doanh nghiệp lớn và nhỏ là số lượng nhân viên (Hatten, 2011). Theo Ủy ban Châu Âu, các DNNVV chiếm 99% tổng số doanh nghiệp tại Châu Âu. Định nghĩa của một DNNVV là rất quan trọng vì điều này ảnh hưởng đến việc tiếp cận tài chính và các chương trình hỗ trợ của Ủy ban đối với các doanh nghiệp này.