Chương 1: Cơ sở lý luận về chất lượng tín dụng bán lẻ tại ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng chất lượng tín dụng bán lẻ tại BIDV Nam Gia Lai. Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng bán lẻ tại BIDV Nam Gia Lai. 1 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG BÁN LẺ TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Hoạt động tín dụng và tín dụng bán lẻ tại ngân hàng thƣơng mại 1. Hoạt động tín dụng của ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm: Tín dụng là một quan hệ ra đời gắn liền với sản xuất và lưu thông hàng hóa trong nền kinh tế. Tín dụng xuất phát từ gốc chữ Latinh: Credittum – tức là tin tưởng, tín nhiệm, nhìn một cách tổng quát: Tín dụng là quan hệ chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (dưới hình thức tiền tệ hoặc hiện vật) từ chủ thể sở hữu sang chủ thể sử dụng trên cơ sở phải có sự hoàn trả một lượng giá trị lớn hơn ban đầu (Lê Thị Tuyết Hoa và Nguyễn Thị Nhung 2011, trang 43).[1] Có nhiều loại hình tín dụng từ trước đến nay trong nền kinh tế.
Tuy nhiên, căn cứ theo chủ thể trong mối quan hệ tín dụng giữa hai bên có thể chia ra làm 3 nhóm chính: - Tín dụng thương mại: là quan hệ tín dụng giữa các doanh nghiệp với nhau dưới hình thức mua bán chịu hàng hóa. - Tín dụng ngân hàng: là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với các chủ thể khác trong xã hội. - Tín dụng nhà nước: là quan hệ tín dụng giữa nhà nước với các chủ thể khác trong xã hội. - Ngoài ra, còn có các hình thức tín dụng khác: tín dụng doanh nghiệp, tín dụng tư nhân… Trong các hình thức trên thì tín dụng ngân hàng luôn là một hình thức tín dụng vô cùng quan trọng, cung cấp phần lớn nhu cầu tín dụng cho nền kinh tế.
Căn cứ Luật các Tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16/06/2010 của Chủ tịch Quốc Hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam thì hoạt động tín dụng của NHTM được hiểu là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả 2 bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. Các hình thức cấp tín dụng [2] Hình thức cấp tín dụng có thể hiểu là tập hợp những yếu tố tạo nên đặc trưng bên ngoài của hành vi cấp tín dụng. Theo Luật các Tổ chức tín dụng Việt Nam, có 5 hình thức cấp tín dụng chính là: cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán và bảo lãnh ngân hàng. Cho vay Theo quy định tại Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 thì Cho vay được hiểu là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
[6] Đặc trưng cơ bản của hoạt động cho vay: - Cho vay có hình thái giá trị tín dụng là tiền tệ, do đó nó có thể thỏa mãn mọi nhu cầu đa dạng của nhiều tầng lớp khác nhau trong nền kinh tế và trong xã hội. - Bản chất của cho vay là ứng trước, tiền được đưa ra khi người vay chưa/hoặc mới bắt đầu thực hiện phương án của mình. Vì vậy, cho vay có độ rủi ro cao hơn các hình thức cấp tín dụng khác. - Xuất phát từ sự đa dạng về mục đích vay của khách hàng nên đối tượng cho vay rất phong phú.
- Phương thức cho vay đa dạng. Chiết khấu Chiết khấu là việc mua có kỳ hạn hoặc mua có bảo lưu quyền truy đòi các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của người thụ hưởng trước khi đến hạn thanh toán.[5] Đặc trưng cơ bản của hoạt động chiết khấu: - Chiết khấu có hình thái giá trị tín dụng là tiền tệ. - Chiết khấu là việc cấp tín dụng dựa trên một khoản nợ phải thu đã hình thành nên độ rủi ro thấp hơn so với cho vay. 3 - Chiết khấu là hình thức mua bán nợ có truy đòi, ngân hàng có thể truy đòi người chiết khấu (người chuyển nhượng khoản nợ phải thu) nếu người mắc nợ không trả được.
Cho thuê tài chính Cho thuê tài chính là hoạt động cấp tín dụng trung hạn, dài hạn trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài chính giữa bên cho thuê tài chính với bên thuê tài chính. Bên cho thuê tài chính cam kết mua tài sản cho thuê tài chính theo yêu cầu của bên thuê tài chính và nắm giữ quyền sở hữu đối với tài sản cho thuê tài chính trong suốt thời hạn cho thuê. Bên thuê tài chính sử dụng tài sản thuê tài chính và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê quy định trong hợp đồng cho thuê tài chính.[7] Đặc trưng cơ bản của hoạt động Cho thuê tài chính - Đối tượng cấp tín dụng hẹp, thường chỉ xoay quanh những tài sản cố định. - Giảm thiểu rủi ro sử dụng sai mục đích từ phía khách hàng.
- Ngân hàng làm chủ sở hữu tài sản, do đó có thể kiểm tra giám sát chặt chẽ tài sản thuê trong quá trình sử dụng và có biện pháp xử lý kịp thời khi khách hàng vi phạm cam kết. Bao thanh toán Bao thanh toán là hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng hoặc bên mua hàng thông qua việc mua lại có bảo lưu quyền truy đòi các khoản phải thu hoặc các khoản phải trả phát sinh từ việc mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo hợp đồng mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ.[5] Đặc trưng cơ bản của hoạt động Bao thanh toán: - Là sự kết hợp của việc tài trợ vốn và cung cấp dịch vụ thu nợ của ngân hàng đối với bên bán hàng hóa. Giúp bên bán hàng tăng thêm vốn khả dụng, giảm chi phí thu hồi nợ. - Là hành vi tài trợ ở giai đoạn sau giao hàng.
- Các NHTM ở Việt Nam chỉ áp dụng bao thanh toán có truy đòi, điều này bảo vệ sự an toàn cho các ngân hàng cung cấp bao thanh toán, tuy nhiên cũng làm thu hẹp phạm vi sử dụng dịch vụ này trong thực tế. 4 Bảo lãnh ngân hàng Bảo lãnh ngân hàng là một hình thức cấp tín dụng, theo đó bên bảo lãnh cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho bên được bảo lãnh khi bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh; bên được bảo lãnh phải nhận nợ và hoàn trả cho bên bảo lãnh.[8] Đặc trưng cơ bản của hoạt động bảo lãnh ngân hàng: Ngân hàng không cấp tiền cho khách hàng mà chỉ chuyển giao (thông qua văn bản) một lời cam kết bảo đảm cho đối tác của khách hàng. Sự cam kết bảo đảm của ngân hàng có thể giúp cho khách hàng những thuận lợi trong giao dịch với đối tác của họ. Hoạt động tín dụng bán lẻ của ngân hàng thƣơng mại 1.
Khái niệm: Hiện nay, các NHTM ở Việt Nam đã và đang áp dụng mô hình kinh doanh theo hai hướng đối tượng khách hàng chính là khách hàng bán lẻ và khách hàng bán buôn. Từ đó việc nghiên cứu thị trường, thiết kế sản phẩm hay ban hành các văn bản chính sách, quy trình, sản phẩm dịch vụ, biểu phí, lãi suất đều được thiết kế riêng cho từng đối tượng khách hàng bán lẻ và khách hàng bán buôn. Khi nhắc đến khách hàng bán lẻ thì ta sẽ nghĩ ngay đến các cá nhân, hộ gia đình, tuy nhiên hiện nay thì một số ngân hàng đã phân nhóm doanh nghiệp siêu nhỏ cũng thuộc đối tượng khách hàng bán lẻ. Trên cơ sở định nghĩa tín dụng ngân hàng nêu trên, ta có thể hiểu tín dụng bán lẻ là loại hình tín dụng mà trong đó NHTM đóng vai trò là người chuyển nhượng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền cho khách hàng là các cá nhân, cá nhân là chủ hộ kinh doanh và các doanh nghiệp siêu nhỏ sử dụng trong một thời hạn nhất định theo nguyên tắc có hoàn trả nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn cho sản xuất kinh doanh, đầu tư, phục vụ nhu cầu đời sống.
Hoạt động TDBLbao gồm các nghiệp vụ chính như: cho vay, bảo lãnh và Phát hành thẻ tín dụng. Đặc điểm: Đối tượng cấp tín dụng đa dạng, phương thức cấp tín dụng phong phú. Quy mô của từng món vay thông thường nhỏ, số lượng khoản vay lớn, rủi ro tín dụng thấp và phân tán. Hồ sơ vay vốn và thủ tục rất đơn giản, nhanh chóng và không phức tạp như các hình thức tín dụng khác.
Chất lượng các thông tin tài chính của các khoản vay thường không cao, rất khó xác định. Các khoản cấp TDBL thường đảm bảo toàn bộ bằng tài sản nên có tính an toàn cao hơn so với tín dụng bán buôn. TDBL gây tốn kém nhiều chi phí quản lý hoạt động. Lãi suất của các khoản TDBL thường cao hơn các hình thức tín dụng khác nên nó mang lại lợi nhuận cao hơn cho các NHTM.
Phân loại [3] Các hình thức và sản phẩm TDBL tại các NHTM thường rất đa dạng với nhiều tên gọi khác nhau. Tuy nhiên, chúng ta có thể chia thành những hình thức TDBL như sau: Cho vay sản xuất kinh doanh Cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh (SXKD) là một hình thức TDBL nhằm bổ sung vốn ngắn hạn và/hoặc vốn trung dài hạn trong hoạt động sản xuất kinh doanh đối với khách hàng bán lẻ là cá nhân/hộ gia đình/hộ kinh doanh. Bao gồm những một số dạng cho vay sau: - Cho vay phục vụ sản xuất, nuôi trồng là cung cấp dịch vụ tín dụng cho khách hàng cá nhân, hộ gia đình có nhu cầu vốn trong lĩnh vực nông, lâm, diêm nghiệp và thủy sản. - Cho vay phục vụ kinh doanh thương mại dịch vụ là cung cấp dịch vụ tín dụng cho khách hàng tiểu thương có nhu cầu bổ sung vốn kinh doanh buôn bán hàng hóa.
6 Cho vay phục vụ nhu cầu đời sống Cho vay phục vụ nhu cầu đời sống là việc TCTD cho vay đối với khách hàng là cá nhân để thanh toán các chi phí cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân đó, gia đình của cá nhân đó. Cho vay phục vụ nhu cầu đời sống hay được gọi là cho vay tiêu dùng.