Chương 1 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC PHỔ THÔNG CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN QUẢNG XƯƠNG (THANH HÓA) TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2000 1. Các yếu tố tác động và chủ trương của Đảng bộ huyện Quảng Xương đối với giáo dục phổ thông (1996-2000) 1. Các yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Quảng Xương 1. Điều kiện tự nhiên và đặc điểm kinh tế - xã hội – văn hóa của huyện Quảng Xương Điều kiện tự nhiên: Quảng Xương là huyện đồng bằng ven biển về phía Đông Nam của tỉnh Thanh Hoá, nằm trong toạ độ từ 19034' đến 19047' vĩ độ Bắc và từ 105046' đến 105053' kinh độ Đông.
Phía Bắc giáp thành phố Thanh Hoá và huyện Hoằng Hoá, lấy sông Mã làm ranh giới. Phía Nam giáp huyện Tĩnh Gia, Nông Cống, lấy sông Yên làm ranh giới. Phía Đông giáp biển Đông và thị xã du lịch Sầm Sơn, phía Tây giáp huyện Đông Sơn. Huyện Quảng Xương có đường quốc lộ 1A chạy theo hướng Bắc - Nam từ cầu Quán Am (Quảng Thịnh) đến Cầu Ghép (Quảng Trung) dài 18 km thuận lợi cho việc lưu thông.
Trên địa bàn huyện có 3 tuyến đường 4A, 4B, 4C chạy song song dọc bờ biển. Ngoài ra còn có quốc lộ 47 từ thanh phố Thanh Hoá đi Sầm Sơn ở phía Bắc và quốc lộ 48 từ ngã ba Voi đi Nông Cống. Đặc biệt, Quảng Xương giáp thị xã du lịch Sầm Sơn và Vịnh Bắc Bộ, chiều dài đường bờ biển là 18,2 km, gần cửa Lạch Hới phía Bắc và cửa Lạch Ghép phía Nam là các cửa lạch lớn thông ra biển Đông, tạo thế mạnh cho nghề đánh bắt hải sản ngoài khơi và phát triển du lịch biển. Phía Bắc giáp khu công nghiệp Lễ Môn của thành phố Thanh Hoá và phía Nam gần khu công 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghiệp động lực Tĩnh Gia – Nghi Sơn có tác động lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện.
Quảng Xương có nhiều tài nguyên để phát triển kinh tế. Tổng diện tích đất tự nhiên là 22.764,56 ha, trong đó đất nông nghiệp là 13775,66 ha chiếm 60,51%; bao gồm: đất cát ven biển, đất phù sa, đất mặn, đất glây, đất tầng mỏng. Đây là những điều kiện thuận lợi cho kinh tế phát triển, đồng thời tạo động lực cho sự nghiệp giáo dục đào tạo của huyện. Điều kiện kinh tế - xã hội: Quảng Xương là một huyện đông dân của tỉnh Thanh Hoá.
Năm 2013, dân số của huyện là 284.994 người, chiếm 7,6% dân số của tỉnh; mật độ dân số trung bình là 1.252 người/km2, gấp 3,7 lần mật độ dân số tỉnh (330 người/km2) và gấp 1,36 lần mật độ dân số trung bình của vùng đồng bằng ven biển Thanh Hoá (958 người/km2) Dân số tập trung chủ yếu ở vùng nông thôn, chiếm 98,9%, dân cư ở đô thị là 1,1%, sự phân bố dân cư khá đều trên lãnh thổ. Vì vậy, nguồn nhân lực của huyện khá dồi dào. Giai đoạn 2006 - 2010, dân số trong độ tuổi lao động là 133,8 nghìn người, chiếm 49,6% tổng số dân. Tuy nhiên, số lao động đã qua đào tạo và lao động có kĩ thuật chiếm tỷ lệ rất thấp, gây khó khăn cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng như phát triển kinh tế - xã hội của huyện.
Là một huyện đồng bằng ven biển nên Quảng Xương có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển nông nghiệp đa canh: Trồng trọt, chăn nuôi, khai thác và nuôi trồng thuỷ sản, phát triển kinh tế biển. Tuy nhiên, nghề làm ruộng vẫn là chủ yếu. Các xã ven biển có nghề đánh cá, tập trung ở xã Quảng Nham. Các nghề thủ công truyền thống như: mây tre đan (Quảng Phong, Quảng Đức), nghề chiếu cói (Quảng Phúc, Quảng Vọng), nghề làm đồ thờ (Quảng Hùng), nghề làm quạt giấy (Lưu Vệ - Quảng Tân).
Các nghề phụ, các làng nghề chỉ làm lúc nông nhàn còn chủ yếu vẫn làm nông nghiệp. Ở xã 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quảng Nham, Quảng Thái ngư dân chỉ đi biển khi trời lặng, những ngày biển động lại làm nông nghiệp. Với lợi thế về vị trí địa lý đã tạo thuận lợi cho việc tiếp thu tiến bộ khoa học - kĩ thuật để phát triển kinh tế: “Cơ cấu kinh tế của huyện chuyển dịch đúng hướng: Tăng tỷ trọng ngành công nghiệp – xây dựng, giảm tỷ trọng nông nghiệp. Tổng GDP năm 2000 của huyện đạt 628,4 tỷ đồng, bằng 8,1% GDP toàn tỉnh; năm 2005 đạt 943,5 tỷ đồng, bằng 7,9% GDP toàn tỉnh.
Thu nhập bình quân theo đầu người ngày càng tăng, năm 2000 đạt 2,79 triệu đồng, năm 2005 đạt 4,73 triệu đồng” [31, 10]. Truyền thống lịch sử, văn hóa: Quảng Xương là một huyện có bề dày truyền thống cách mạng. Sau thắng lợi của cách mạng tháng Tám 1945, mặt trận Việt Minh cùng Ủy ban cách mạng lâm thời huyện Quảng Xương tiến hành xóa bỏ chính quyền thực dân phong kiến, thành lập chính quyền cách mạng, nhanh chóng ổn định tình hình và xây dựng đời sống mới. Hòa mình trong làn sóng cách mạng của dân tộc, Quảng Xương đã góp phần cùng nhân dân cả nước làm nên Cách mạng tháng Tám thần kì.
Với 9 năm của cuộc kháng chiến chống Pháp, thành quả độc lập dân tộc, dân chủ được Đảng bộ và nhân dân Quảng Xương bảo vệ, phát huy. Quảng Xương có nhiều di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh, di tích kiến trúc nghệ thuật, phong tục tập quán tốt đẹp được lưu giữ qua các lễ hội truyền thống, các gia phả của gia đình, dòng họ và được thể hiện rõ nét trong các hương ước, quy ước xây dựng làng xã. Truyền thống hiếu học: Là một huyện nghèo, còn lưu lại câu ca: “nhất Xương nhì Gia" nên ngành giáo dục Quảng Xương từ xưa tới nay cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Tuy nhiên, suốt 1000 năm của chế độ thi cử phong kiến (1075- 1919) huyện Quảng Xương cũng có 10 người đỗ đại khoa, trong đó có một Trạng nguyên, 1 Bảng nhãn và 8 Tiến sĩ.
Thời xưa ở Quảng Xương còn truyền các câu ca “ Phật giáng hạ Yên Đông, Trạng nguyên sinh ở Bất Quần”. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Xã Quảng Yên ngày nay có hai ông cháu họ trương đều đậu tiến sĩ và dân gian còn truyền câu ca “Nhất môn lương tương công, tam giáp đồng tiến sĩ”. Sau cách mạng tháng 8 - 1945 Ủy ban cách mạng lâm thời Huyện Quảng Xương đã thực hiện triệt để lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh là “ Diệt giặc dốt”. Ủy ban cách mạng lâm thời huyện đã thành lập Ban bình dân học vụ do bà Trần Thị Nhị - ủy viên Ủy ban cách mạng lâm thời Huyện làm trưởng ban.
Khắp các làng xã trong Huyện các ban Bình dân học vụ được thành lập. Một phong trào học tập xóa mù chữ rầm rộ khắp nơi trong Huyện với phương châm: “Cha dạy con, vợ dạy chồng, người biết chữ dạy người chưa biết chữ”. Chỉ trong vòng 4 tháng cuối năm 1945, số người biết đọc biết viết tăng lên nhiều. Vì thế, trong cuộc bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, phần lớn cử tri đã tự viết được vào phiếu bầu.
Từ ngày miền Nam giải phóng, thống nhất đất nước, cả nước bước vào xây dựng xã hội chủ nghĩa, Đảng bộ huyện đã lãnh đạo các xã kịp thời đầu tư xây dựng cơ sở vật chất cho các trường cấp 1 và cấp 2. Đội ngũ giáo viên được chú ý bồi dưỡng về chính trị để nâng cao trình độ nhận thức, lí luận, phấn đấu mỗi trường có 1 Chi bộ trực tiếp chỉ đạo công tác chính trị tư tưởng và chuyên môn. Đến những năm thập kỉ 80, giáo dục Quảng Xương tiếp tục phát triển mạnh về số lượng: Năm học 1980 - 1981 toàn huyện có 67. 655 học sinh phổ thông.
Riêng cấp THPT có 83 lớp với 4. Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục đào tạo Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật, Đại hội VI (tháng 12-1986) đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, trong đó có đổi mới giáo dục: "Giáo dục nhằm mục tiêu hình thành và phát triển toàn diện nhân cách xã hội chủ nghĩa của thế hệ trẻ, đào tạo đội ngũ lao động có kĩ thuật, đồng bộ về ngành nghề phù hợp với yêu cầu phân công lao động của xã hội". Nghị quyết Đại hội xác định giáo dục nhằm 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mục tiêu hình thành và phát triển toàn diện nhân cách xã hội chủ nghĩa của thế hệ trẻ, đào tạo đội ngũ lao động có kĩ thuật đồng bộ về ngành nghề, phù hợp với yêu cầu phân công lao động của xã hội. Đại hội Đảng cũng đã chỉ rõ yêu cầu đối với GDPT là: "Các trường phổ thông phải dạy kiến thức phổ thông cơ bản, lao động kĩ thuật tổng hợp, hướng nghiệp và dạy nghề phổ thông".
Năm 1991, Nghị quyết Đại hội VII khẳng định: "Khoa học và giáo dục đóng vai trò then chốt trong toàn bộ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, là động lực đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, vươn lên trình độ tiên tiến trên thế giới" [16, tr. Ngày 14-1-1993, Đảng ban hành Nghị quyết số 04-NQ/HNTW “Về tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo”. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã có kỳ họp riêng bàn về một số vấn đề xã hội, trong đó tập trung xem xét sâu rộng vấn đề giáo dục và đào tạo và ra Nghị quyết về tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo. Đây là Nghị quyết đáp ứng lòng mong đợi từ lâu của toàn Đảng, toàn dân, nhất là đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục, học sinh, sinh viên trong cả nước, về việc xác định quan điểm, chủ trương, chính sách, biện pháp tiếp tục phát triển mạnh mẽ sự nghiệp giáo dục.
Nghị quyết không những chỉ ra những giải pháp cấp bách để xử lý những vấn đề nóng bỏng đối với công tác giáo dục và đào tạo mà còn định hướng lâu dài cho việc phát triển sự nghiệp này theo cương lĩnh và chiến lược của Đảng cho đến sau năm 2000, nhằm chuẩn bị cho nhân dân ta, đặc biệt cho thế hệ trẻ vững bước tiến vào thế kỷ XXI. Có thể nói, những quan điểm nói trên là những tư tưởng chỉ đạo rất quan trọng cho sự phát triển giáo dục nước ta trong những năm đầu trong thời kỳ đổi mới. Đặc biệt, Nghị quyết đã nêu rõ tư tưởng mới hết sức quan trọng: Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển.