Luận án: Phát triển đội ngũ giảng viên CĐ kỹ thuật Lào theo năng lực

Luận án tiến sĩ về phát triển đội ngũ giảng viên theo năng lực tại các trường cao đẳng kỹ thuật Lào. Nghiên cứu chuyên sâu, giải pháp nâng cao chất lượng.

Chuyên ngành

Quản lý giáo dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án Tiến sĩ Khoa học Giáo dục

2022

207
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG, BIỂU

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

2. Mục đích nghiên cứu

3. Khách thể, đối tượng nghiên cứu

4. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học

5. Nhiệm vụ nghiên cứu

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG KỸ THUẬT

1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.1.1. Nghiên cứu về đội ngũ giảng viên trường cao đẳng kỹ thuật theo tiếp cận năng lực

1.1.2. Nghiên cứu về phát triển đội ngũ giảng viên theo tiếp cận năng lực ở trường cao đẳng kỹ thuật

1.1.3. Nhận xét chung về những công trình được tổng quan

1.2. Các khái niệm công cụ của đề tài

1.2.1. Đội ngũ giảng viên trường cao đẳng kỹ thuật

1.2.2. Tiếp cận năng lực trong phát triển giảng viên

1.2.3. Phát triển đội ngũ giảng viên theo tiếp cận năng lực

1.2.4. Phát triển đội ngũ giảng viên cao đẳng kỹ thuật theo tiếp cận năng lực

1.3. Một số vấn đề lý luận về đội giảng viên trường cao đẳng kỹ thuật

1.3.1. Đặc trưng hoạt động nghề nghiệp của giảng viên trường cao đẳng kỹ thuật

1.3.2. Yêu cầu đối với đội ngũ giảng viên trường cao đẳng kỹ thuật theo tiếp cận năng lực

1.3.3. Chuẩn nghề nghiệp và khung năng lực nghề nghiệp của giảng viên trường cao đẳng kỹ thuật

1.4. Lý luận về phát triển đội ngũ giảng viên ở trường cao đẳng kỹ thuật theo lý thuyết phát triển nguồn nhân lực và theo tiếp cận năng lực

1.4.1. Ý nghĩa, tầm quan trọng của phát triển đội ngũ giảng viên theo tiếp cận năng lực ở trường cao đẳng kỹ thuật

1.4.2. Tiếp cận lý thuyết phát triển nguồn nhân lực và tiếp cận năng lực trong phát triển đội ngũ giảng viên ở trường cao đẳng kỹ thuật

1.4.3. Nội dung phát triển đội ngũ giảng viên theo tiếp cận năng lực ở trường cao đẳng kỹ thuật

1.4.4. Xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển đội ngũ giảng viên theo tiếp cận năng lực

1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển đội ngũ giảng viên theo tiếp cận năng lực ở trường cao đẳng kỹ thuật

1.5.1. Các yếu tố bên ngoài

1.5.2. Các yếu tố bên trong

1.6. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC Ở CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG KỸ THUẬT NƯỚC CỘNG HOÀ DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO

2.1. Một số nét khái quát về các trường cao đẳng kỹ thuật nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào

2.1.1. Giới thiệu khái quát về các trường cao đẳng kỹ thuật nước cộng hoà dân chủ nhân dân Lào

2.1.2. Ngành, nghề các trường đang đào tạo

2.1.3. Tổ chức bộ máy

2.2. Tổ chức khảo sát thực trạng

2.2.1. Mục đích khảo sát

2.2.2. Nội dung khảo sát

2.2.3. Đối tượng khảo sát

2.2.4. Phương pháp và công cụ khảo sát

2.2.5. Xử lý phiếu khảo sát theo phương pháp thống kê toán học

2.2.6. Các hoạt động khảo sát

2.3. Thực trạng đội ngũ giảng viên ở các trường cao đẳng kỹ thuật nước CHDCND Lào

2.3.1. Về số lượng, trình độ đào tạo

2.3.2. Về cơ cấu theo dân tộc, giới tính

2.3.3. Về cơ cấu theo độ tuổi

2.3.4. Về chức danh nghề nghiệp theo vị trí việc làm

2.3.5. Về phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống và trách nhiệm nghề nghiệp

2.3.6. Về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ giảng viên theo tiếp cận năng lực

2.3.7. Đánh giá chung về thực trạng đội ngũ giảng viên các trường cao đẳng kỹ thuật

2.4. Thực trạng phát triển đội ngũ giảng viên theo tiếp cận năng lực tại các trường cao đẳng kỹ thuật Nước cộng hoà dân chủ nhân dân Lào

2.4.1. Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý, giảng viên về tầm quan trọng của phát triển đội ngũ giảng viên theo tiếp cận năng lực tại các trường cao đẳng kỹ thuật nước cộng hoà dân chủ nhân dân Lào

2.4.2. Thực trạng công tác quy hoạch đội ngũ giảng viên theo tiếp cận năng lực tại các trường cao đẳng kỹ thuật

2.4.3. Thực trạng tuyển dụng và sử dụng đội ngũ giảng viên theo tiếp cận năng lực tại các trường cao đẳng kỹ thuật

2.4.4. Thực trạng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên theo tiếp cận năng lực ở các trường cao đẳng kỹ thuật

2.4.5. Thực trạng thực hiện chế độ, chính sách và xây dựng môi trường phát triển giảng viên theo tiếp cận năng lực ở các trường cao đẳng kỹ thuật

2.4.6. Thực trạng kiểm tra và đánh giá đội ngũ giảng viên theo tiếp cận năng lực ở các trường cao đẳng kỹ thuật

2.4.7. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển đội ngũ giảng viên theo tiếp cận năng lực ở các trường cao đẳng kỹ thuật

2.4.8. Đánh giá chung phát triển đội ngũ giảng viên theo tiếp cận năng lực ở các trường cao đẳng kỹ thuật nước cộng hoà dân chủ nhân dân Lào

2.4.9. Mặt hạn chế

2.5. Kinh nghiệm của một số nước về phát triển đội ngũ giảng viên theo tiếp cận năng lực và bài học kinh nghiệm trong phát triển đội ngũ giảng viên ở các trường cao đẳng kỹ thuật nước cộng hoà dân chủ nhân dân Lào

2.5.1. Kinh nghiệm của Cộng hòa Liên bang Đức

2.5.2. Kinh nghiệm của Nhật Bản

2.5.3. Kinh nghiệm của Singapore

2.5.4. Kinh nghiệm của Hàn Quốc

2.5.5. Bài học kinh nghiệm trong phát triển đội ngũ giảng viên trường cao đẳng kỹ thuật nước cộng hoà dân chủ nhân dân Lào

2.6. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC Ở CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG KỸ THUẬT NƯỚC CỘNG HOÀ DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO

3.1. Một số định hướng cơ bản về phát triển các trường cao đẳng kỹ thuật nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào

3.1.1. Định hướng chiến lược kinh tế - xã hội của Nhà nước Lào giai đoạn 2015-2020

3.1.2. Định hướng phát triển trường cao đẳng kỹ thuật đến năm 2030

3.2. Các nguyên tắc đề xuất biện pháp

3.2.1. Đảm bảo tính đồng bộ của các biện pháp

3.2.2. Đảm bảo tính kế thừa của biện pháp

3.2.3. Đảm bảo tính cấp thiết của biện pháp

3.2.4. Đảm bảo tinh khả thi của biện pháp

3.3. Một số biện pháp phát triển đội ngũ giảng viên theo tiếp cận năng lực ở các trường cao đẳng kỹ thuật nước cộng hoà dân chủ nhân dân Lào

3.3.1. Tổ chức nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lý và giảng viên về phát triển đội ngũ theo tiếp cận năng lực ở các trường cao đẳng kỹ thuật

3.3.2. Lập quy hoạch phát triển đội ngũ giảng viên các trường cao đẳng kỹ thuật theo năng lực và vị trí việc làm

3.3.3. Tổ chức tuyển chọn, sử dụng đội ngũ giảng viên ở các trường cao đẳng kỹ thuật dựa trên năng lực

3.3.4. Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên ở các trường cao đẳng kỹ thuật theo khung năng lực nghề nghiệp

3.3.5. Đánh giá đội ngũ giảng viên ở các trường cao đẳng kỹ thuật theo khung năng lực nghề nghiệp

3.3.6. Mục đích và ý nghĩa của biện pháp

3.3.7. Phát triển môi trường nghề nghiệp thúc đẩy đội ngũ giảng viên phát huy, phát triển năng lực chuyên môn

3.3.8. Mối quan hệ giữa các biện pháp

3.4. Khảo nghiệm mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp

3.4.1. Nội dung và phương pháp khảo nghiệm

3.4.2. Đối tượng khảo nghiệm

3.4.3. Kết quả khảo nghiệm về sự cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đã đề xuất

3.5. Tổ chức thử nghiệm biện pháp

3.5.1. Mục đích thử nghiệm

3.5.2. Giả thuyết thử nghiệm

3.5.3. Nội dung thử nghiệm

3.5.4. Đối tượng thử nghiệm

3.5.5. Các giai đoạn thử nghiệm

3.5.6. Xử lý kết quả thử nghiệm

3.5.7. Tiêu chí đánh giá

3.6. Kết quả thử nghiệm

3.7. Tiểu kết chương 3

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Đổi Mới Phát triển Giảng viên CĐ Kỹ thuật Vì Sao Cần Tiếp Cận Năng Lực

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và tác động sâu rộng của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, hệ thống giáo dục nghề nghiệp (GDNN) đang trải qua những thay đổi nhanh chóng. Vai trò của người giảng viên không còn giới hạn ở việc truyền thụ kiến thức đơn thuần mà mở rộng sang chức năng tổ chức, điều khiển hoạt động học tập, hướng dẫn người học hình thành nhân cách và phát triển tư duy sáng tạo [90, tr12]. Đội ngũ giảng viên, đặc biệt là các chuyên gia kỹ thuật, trở thành yếu tố chủ đạo quyết định chất lượng đào tạo, đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội.

Để đáp ứng yêu cầu này, việc phát triển giảng viên CĐ kỹ thuật: Tiếp cận năng lực là một chiến lược không thể thiếu. Mục tiêu hướng đến là xây dựng đội ngũ giảng viên có khả năng tìm được việc làm, tự tạo việc làm trong nền kinh tế thị trường, đồng thời sở hữu kiến thức khoa học, kỹ năng nghề nghiệp tự chủ, sáng tạo và phẩm chất đạo đức tốt [tr.2]. Điều này đặc biệt quan trọng khi các trường cao đẳng kỹ thuật đang hướng tới cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước. Việc áp dụng tiếp cận năng lực trong giáo dục nghề nghiệp giúp cá nhân và tổ chức không ngừng nâng cao khả năng, tạo ra những thành quả bền vững, cải thiện chất lượng cuộc sống [theo 50]. Đây là phương pháp tiếp cận hiện đại, trở thành xu thế phổ biến trên thế giới và tại các nước Đông Nam Á hiện nay, nhằm chuẩn hóa và điều khiển hành vi hoạt động để tạo sự khác biệt về hiệu quả [105, tr.]. Do đó, việc hiểu rõ và triển khai phương pháp này sẽ là chìa khóa cho sự thành công của GDNN.

1.1. Bối cảnh GDNN 4.0 và yêu cầu mới cho năng lực giảng viên CĐ kỹ thuật

Kỷ nguyên công nghiệp 4.0 đòi hỏi sự thay đổi toàn diện trong cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực. Điều này tác động trực tiếp đến giáo dục nghề nghiệp 4.0 và vai trò của năng lực giảng viên CĐ kỹ thuật. Giảng viên cần không chỉ giỏi chuyên môn mà còn phải linh hoạt, có khả năng cập nhật công nghệ mới, đồng thời biết áp dụng các phương pháp giảng dạy hiện đại để khơi gợi tiềm năng người học. Từ đó, cần một sự chuyển đổi từ kiểu dạy “thông báo đồng loạt” sang kiểu dạy “hoạt động phân hóa” [90, tr.12]. Họ phải là nhà tư vấn, hướng dẫn, tổ chức hoạt động nhận thức và nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ. Nghị quyết Đại hội XI Đảng nhân dân cách mạng Lào đã khẳng định mục tiêu “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao hơn, đáp ứng nhu cầu phát triển, có khả năng nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ để tăng hiệu quả, tạo ra giá trị gia tăng sản xuất và dịch vụ” [13]. Yêu cầu này đặt ra thách thức và cơ hội lớn cho việc phát triển chuyên môn giảng viên trong bối cảnh mới.

1.2. Định nghĩa và tầm quan trọng của tiếp cận năng lực trong giáo dục nghề nghiệp

Theo quan điểm của các chuyên gia, tiếp cận năng lực là sự tích hợp các kỹ năng kỹ thuật tác động lên các nội dung trong một loạt tình huống để giải quyết vấn đề. Nó là cách thể hiện khả năng 'biết làm việc' và 'muốn làm việc' một cách hiệu quả [theo 51, P. Maiple 2010]. Trong GDNN, năng lực được hiểu là năng lực thực hành, tức là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa kiến thức, kỹ năng và thái độ cần thiết để hoàn thành công việc cụ thể của nghề theo tiêu chuẩn quy định [Nguyễn Đức Trí 1996, Vũ Xuân Hùng 2012]. Việc áp dụng tiếp cận năng lực trong giáo dục nghề nghiệp không chỉ giúp xác định rõ những khả năng cần có khi thực hành nghề nghiệp mà còn biến chúng thành mục tiêu của chương trình đào tạo [Bộ Giáo dục Québec]. Đây là nền tảng để bồi dưỡng giảng viên cao đẳng một cách có hệ thống, đảm bảo đội ngũ có đủ phẩm chất và năng lực để thực hiện mục tiêu 'dạy người, dạy nghề', cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao cho xã hội.

II. Thực trạng Thách thức Phát triển Giảng viên CĐ Kỹ thuật Hiện nay

Công tác phát triển giảng viên CĐ kỹ thuật: Tiếp cận năng lực tại nhiều quốc gia, trong đó có Lào, đã đạt được những thành tựu nhất định. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập đáng kể. Những vấn đề này ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đào tạo nghề nghiệp và khả năng đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động. Năng lực thiết kế và tổ chức dạy học, xây dựng chương trình, biên soạn giáo trình còn nhiều hạn chế. Đặc biệt, năng lực nghiên cứu khoa học của đội ngũ giảng viên ở các trường cao đẳng kỹ thuật chưa được đánh giá cao [tr. 2-3].

Việc áp dụng chuẩn năng lực giảng viên kỹ thuật vào thực tiễn còn gặp khó khăn, từ khâu quy hoạch, kế hoạch, tuyển dụng, sử dụng cho đến đánh giá chưa thực sự dựa trên năng lực. Các chương trình đào tạo theo năng lực cho giảng viên và bồi dưỡng chưa theo kịp nhu cầu phát triển. Điều kiện và môi trường làm việc chưa thực sự thuận lợi, với chế độ, chính sách tiền lương chưa tương xứng với đặc thù hoạt động đào tạo cao đẳng kỹ thuật [tr. 2-3]. Những thách thức này đòi hỏi một cái nhìn toàn diện và các giải pháp đồng bộ để nâng cao chất lượng đào tạo nghềphát triển đội ngũ giảng viên một cách bền vững.

2.1. Những hạn chế trong năng lực chuyên môn giảng viên CĐ kỹ thuật

Thực trạng cho thấy năng lực giảng viên CĐ kỹ thuật còn tồn tại nhiều điểm yếu, đặc biệt trong các hoạt động cốt lõi. Khảo sát chỉ ra rằng khả năng thiết kế và tổ chức dạy học, xây dựng và phát triển chương trình đào tạo, cũng như biên soạn giáo trình, tài liệu giảng dạy còn nhiều hạn chế [tr. 2-3]. Các kỹ năng này là nền tảng để triển khai hiệu quả các chương trình đào tạo định hướng năng lực. Ngoài ra, năng lực nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ của giảng viên chưa được phát huy tối đa, làm giảm khả năng cập nhật kiến thức và phương pháp mới. Điều này cản trở việc phát triển chuyên môn giảng viên liên tục và tích cực, ảnh hưởng đến khả năng dẫn dắt sinh viên tiếp cận với các công nghệ và kỹ thuật tiên tiến, đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế tri thức.

2.2. Khó khăn khi áp dụng tiếp cận năng lực và chuẩn năng lực giảng viên kỹ thuật

Mặc dù tiếp cận năng lực được công nhận là xu hướng giáo dục hiện đại, việc triển khai nó tại các trường cao đẳng kỹ thuật vẫn đối mặt với nhiều rào cản. Chuẩn năng lực giảng viên kỹ thuật chưa thực sự đi vào thực tiễn. Các quy hoạch, kế hoạch phát triển đội ngũ giảng viên chưa được xây dựng và thực hiện một cách đồng bộ theo định hướng năng lực. Quy trình tuyển dụng, sử dụng, đánh giá đội ngũ giảng viên chưa dựa trên các tiêu chí năng lực rõ ràng, khiến việc phân công nhiệm vụ và phát triển cá nhân chưa tối ưu [tr. 2-3]. Thêm vào đó, chế độ, chính sách đãi ngộ, đặc biệt là tiền lương, chưa tương xứng với tính chất đặc thù và yêu cầu cao của hoạt động đào tạo theo năng lực cho giảng viên trong lĩnh vực kỹ thuật, làm giảm động lực cống hiến và phát triển của đội ngũ.

III. Bí Quyết Xây Dựng Khung Năng Lực Giảng viên CĐ Kỹ thuật Hiệu Quả

Việc xây dựng một khung năng lực giảng viên rõ ràng và khoa học là yếu tố then chốt để phát triển giảng viên CĐ kỹ thuật: Tiếp cận năng lực một cách bền vững. Khung năng lực này cần được thiết kế dựa trên đặc trưng hoạt động nghề nghiệp của giảng viên, kết hợp các yêu cầu về kiến thức, kỹ năng và thái độ. Các nghiên cứu quốc tế, như của UNESCO và OECD, đã chỉ ra những năng lực cần có của một giảng viên trong thế kỷ XXI, bao gồm kiến thức về cách học của sinh viên, kỹ năng sư phạm, tư duy phê phán, khả năng quản lý và tự hoàn thiện bản thân [49, tr. 9; theo 50].

Tại Việt Nam, Dự án POHE cũng đã xây dựng Chuẩn năng lực giảng viên GDĐH định hướng nghề nghiệp ứng dụng với 5 nhóm năng lực chính: chuyên môn, dạy học, phát triển chương trình, quan hệ với thế giới nghề nghiệp, và nghiên cứu khoa học ứng dụng [tr. 9]. Dựa trên những cơ sở này, việc xây dựng khung năng lực giảng viên cho các trường cao đẳng kỹ thuật cần phải cụ thể hóa các yêu cầu đối với giảng viên dạy lý thuyết, giảng viên dạy thực hành và giảng viên dạy tích hợp, phù hợp với các cấp độ đào tạo và nhu cầu của thị trường lao động. Mục tiêu cuối cùng là tạo ra một công cụ chuẩn hóa, giúp định hướng đào tạo theo năng lực cho giảng viênđánh giá năng lực giảng viên một cách khách quan, toàn diện.

3.1. Phân tích và thiết kế khung năng lực giảng viên theo yêu cầu ngành

Để thiết kế khung năng lực giảng viên hiệu quả, cần tiến hành phân tích sâu rộng về đặc điểm hoạt động nghề nghiệp của giảng viên CĐ kỹ thuật. Họ không chỉ là nhà giáo mà còn là nhà khoa học, chuyên gia kỹ thuật, đòi hỏi sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa lao động trí óc và thể lực ('miệng nói, tay làm') [tr. 34]. Khung năng lực phải phản ánh được những năng lực đặc thù như năng lực thực hành nghề (kỹ năng nghề), năng lực hợp tác với doanh nghiệp, bên cạnh các năng lực chung như chuyên môn, sư phạm, quản lý, phát triển nghề nghiệp và nghiên cứu khoa học [tr. 13]. Mô hình năng lực cần bao gồm các lớp năng lực cơ bản như kiến thức chuyên môn, phương pháp kỹ thuật, năng lực chuyên gia và quản lý, đặt trên nền tảng năng lực cá nhân hay hiệu quả cá nhân [106, tr.10]. Việc này đảm bảo rằng khung năng lực không chỉ mang tính lý thuyết mà còn có giá trị ứng dụng cao, giúp phát triển chuyên môn giảng viên đúng hướng.

3.2. Tiêu chí chuẩn năng lực giảng viên kỹ thuật và quy trình đánh giá

Việc xác định rõ chuẩn năng lực giảng viên kỹ thuật là bước quan trọng để định hình chất lượng. Chuẩn này cần được cụ thể hóa thông qua hệ thống các tiêu chí về kiến thức, kỹ năng và thái độ mà giảng viên cần đạt được. Ví dụ, năng lực sư phạm kỹ thuật cần thể hiện rõ ở kỹ năng giảng dạy thực hành thành thạo các thao tác trực quan, làm mẫu, vận hành máy móc thiết bị [tr. 34]. Quy trình đánh giá năng lực giảng viên phải được xây dựng khoa học, đồng bộ, từ khâu quy hoạch, tuyển chọn, sử dụng cho đến bồi dưỡng và kiểm tra [tr. 32]. Việc đánh giá không chỉ dừng lại ở kiến thức mà còn tập trung vào khả năng thực hiện công việc thực tế, tính sáng tạo, trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp. Chuẩn hóa và sử dụng bộ minh chứng cụ thể trong quá trình đánh giá là cần thiết, đảm bảo tính khách quan và hiệu quả, từ đó góp phần vào việc nâng cao chất lượng đào tạo nghề.

IV. Hướng dẫn Bồi dưỡng Giảng viên Cao đẳng theo Năng lực Thực hành

Để thực hiện thành công mục tiêu phát triển giảng viên CĐ kỹ thuật: Tiếp cận năng lực, việc đầu tư vào các chương trình bồi dưỡng giảng viên chất lượng là không thể thiếu. Các chương trình này cần được thiết kế dựa trên khung năng lực giảng viên đã xây dựng, tập trung vào việc lấp đầy những khoảng trống năng lực và nâng cao kỹ năng cho đội ngũ. Đặc biệt, với đặc thù của đào tạo kỹ thuật, việc rèn luyện kỹ năng giảng dạy thực hành và khả năng ứng dụng công nghệ là ưu tiên hàng đầu.

Tiếp cận đào tạo theo năng lực thực hiện, như Nguyễn Minh Đường đã nghiên cứu, là cơ sở để xây dựng nội dung chương trình đào tạo, bồi dưỡng giảng viên, giáo viên dạy nghề [37]. Các hoạt động bồi dưỡng cần đa dạng hóa, từ các khóa học chuyên sâu về công nghệ mới, cập nhật kiến thức công nghệ cho giảng viên, đến các buổi hội thảo về phương pháp giảng dạy tích cực CĐ và chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn. Việc khuyến khích giảng viên tự bồi dưỡng, tham gia các dự án nghiên cứu khoa học ứng dụng, và trao đổi chuyên môn với đồng nghiệp trong và ngoài nước cũng góp phần quan trọng. Mục tiêu là tạo ra một môi trường học tập suốt đời, nơi giảng viên không ngừng phát triển và hoàn thiện năng lực giảng viên CĐ kỹ thuật của mình, đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp đào tạo CĐ kỹ thuật liên tục của GDNN.

4.1. Chương trình bồi dưỡng giảng viên tập trung kỹ năng giảng dạy thực hành

Các chương trình bồi dưỡng giảng viên cần đặc biệt chú trọng phát triển kỹ năng giảng dạy thực hành. Đây là một trong những năng lực cốt lõi của giảng viên CĐ kỹ thuật, bởi hoạt động đào tạo nghề diễn ra chủ yếu tại xưởng thực hành, trong môi trường doanh nghiệp và đòi hỏi 'miệng nói, tay làm' [tr. 34]. Chương trình bồi dưỡng cần bao gồm các học phần về thiết kế bài giảng thực hành, kỹ thuật trình diễn thao tác mẫu, cách thức tổ chức hoạt động nhóm và quản lý lớp học trong môi trường thực hành. Đồng thời, cần tạo điều kiện cho giảng viên tham gia thực tế tại các doanh nghiệp, để cập nhật kiến thức công nghệ cho giảng viên và các quy trình sản xuất mới. Việc này không chỉ nâng cao năng lực chuyên môn mà còn giúp giảng viên truyền đạt kinh nghiệm thực tiễn một cách sinh động và hiệu quả nhất cho người học, thúc đẩy đổi mới phương pháp đào tạo CĐ kỹ thuật.

4.2. Phương pháp giảng dạy tích cực CĐ và công nghệ giảng dạy CĐ kỹ thuật

Để phát triển giảng viên CĐ kỹ thuật: Tiếp cận năng lực, việc áp dụng các phương pháp giảng dạy tích cực CĐ là điều kiện tiên quyết. Giảng viên cần chuyển từ vai trò truyền thụ sang vai trò người tổ chức, hướng dẫn, gợi mở vấn đề, khuyến khích sinh viên chủ động tìm tòi, tranh luận [90, tr.12]. Các phương pháp như học theo dự án, học tập dựa trên vấn đề, giảng dạy tương tác cần được đưa vào các khóa bồi dưỡng. Song song đó, việc ứng dụng công nghệ giảng dạy CĐ kỹ thuật là không thể thiếu. Giảng viên cần được trang bị kỹ năng sử dụng các công cụ hỗ trợ giảng dạy hiện đại, phần mềm mô phỏng, thực tế ảo (VR/AR) và các nền tảng học trực tuyến. Việc này giúp bài giảng trở nên hấp dẫn, trực quan hơn, tạo điều kiện cho sinh viên thực hành trong môi trường an toàn và hiệu quả, từ đó góp phần nâng cao năng lực giảng viên CĐ kỹ thuật trong bối cảnh giáo dục nghề nghiệp 4.0.

V. Đánh Giá Phát Triển Bền Vững Giảng Viên CĐ Kỹ thuật Chất Lượng Cao

Để đảm bảo sự thành công của chiến lược phát triển giảng viên CĐ kỹ thuật: Tiếp cận năng lực, hệ thống đánh giá hiệu quả và liên kết chặt chẽ với thực tiễn ngành nghề là cực kỳ quan trọng. Việc đánh giá năng lực giảng viên không chỉ là hoạt động kiểm định định kỳ mà phải là một quá trình liên tục, đa chiều, dựa trên khung năng lực giảng viên đã được xây dựng. Kết quả đánh giá cung cấp thông tin phản hồi giá trị để giảng viên tự hoàn thiện và nhà trường điều chỉnh các chương trình bồi dưỡng giảng viên cho phù hợp.

Ngoài ra, việc liên kết doanh nghiệp trong đào tạo đóng vai trò quyết định trong việc đảm bảo tính phù hợp và cập nhật của năng lực giảng viên. Giảng viên cần thường xuyên tiếp xúc với môi trường sản xuất, kinh doanh để nắm bắt yêu cầu thực tế của thị trường lao động và cập nhật kiến thức công nghệ cho giảng viên. Sự hợp tác này không chỉ mang lại kinh nghiệm quý báu cho giảng viên mà còn tạo cơ hội để họ truyền đạt những kiến thức và kỹ năng thực tiễn nhất cho sinh viên, đảm bảo chuẩn đầu ra đào tạo CĐ đáp ứng yêu cầu doanh nghiệp. Đây là cách tiếp cận bền vững để nâng cao chất lượng đào tạo nghề và tạo ra đội ngũ giảng viên chất lượng cao, có khả năng thích ứng với mọi sự thay đổi của xã hội và công nghệ.

5.1. Đánh giá năng lực giảng viên và cơ chế phản hồi liên tục

Hệ thống đánh giá năng lực giảng viên cần được xây dựng trên cơ sở các tiêu chí rõ ràng, minh bạch và phù hợp với chuẩn năng lực giảng viên kỹ thuật. Đánh giá không chỉ bao gồm các phương pháp truyền thống như dự giờ, kiểm tra chuyên môn, mà còn tích hợp các hình thức đánh giá đồng nghiệp, đánh giá từ sinh viên và tự đánh giá của giảng viên. Kết quả đánh giá phải được phân tích kỹ lưỡng để xác định điểm mạnh, điểm yếu của từng cá nhân và của đội ngũ. Quan trọng hơn, cần thiết lập một cơ chế phản hồi liên tục, giúp giảng viên nhận thức rõ về năng lực giảng viên CĐ kỹ thuật hiện tại và định hướng phát triển trong tương lai. Cơ chế này cũng là nền tảng để điều chỉnh các chương trình bồi dưỡng giảng viênđào tạo theo năng lực cho giảng viên, đảm bảo sự cải tiến không ngừng.

5.2. Liên kết doanh nghiệp trong đào tạo và cập nhật kiến thức công nghệ cho giảng viên

Việc liên kết doanh nghiệp trong đào tạo là một trong những giải pháp then chốt để phát triển giảng viên CĐ kỹ thuật: Tiếp cận năng lực. Giảng viên cần có cơ hội tham gia các khóa thực tập, luân chuyển công tác tại doanh nghiệp, hoặc hợp tác trong các dự án nghiên cứu ứng dụng. Điều này giúp giảng viên cập nhật kiến thức công nghệ cho giảng viên một cách thường xuyên, nắm bắt các xu hướng công nghệ mới, quy trình sản xuất tiên tiến và yêu cầu kỹ năng từ thị trường lao động. Ngoài ra, doanh nghiệp có thể tham gia vào quá trình xây dựng khung năng lực giảng viênchương trình bồi dưỡng giảng viên, đảm bảo tính thực tiễn và phù hợp. Sự tương tác này không chỉ nâng cao năng lực giảng viên CĐ kỹ thuật về chuyên môn mà còn trang bị cho họ những kỹ năng mềm và kinh nghiệm quý báu để truyền đạt cho người học.

VI. Tương Lai Nâng Cao Chất Lượng Đào Tạo Nghề CĐ Kỹ Thuật Việt Nam

Để đảm bảo sự phát triển bền vững của ngành giáo dục nghề nghiệp, việc tiếp tục đẩy mạnh phát triển giảng viên CĐ kỹ thuật: Tiếp cận năng lực là một định hướng chiến lược. Đây không chỉ là nhiệm vụ của riêng từng trường mà còn là trách nhiệm của toàn xã hội, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập quốc tế và nhu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao ngày càng tăng. Thành công của việc nâng cao chất lượng đào tạo nghề phụ thuộc rất lớn vào khả năng thích ứng và đổi mới của đội ngũ giảng viên.

Các trường cao đẳng kỹ thuật cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển chuyên môn giảng viên, tạo môi trường làm việc thuận lợi, khuyến khích giảng viên học tập suốt đời. Việc áp dụng linh hoạt và sáng tạo các giải pháp từ quy hoạch, tuyển dụng, bồi dưỡng đến đánh giá theo tiếp cận năng lực sẽ là động lực để đội ngũ giảng viên phát huy tối đa tiềm năng. Hơn nữa, sự đồng bộ giữa các cấp quản lý, nhà trường và doanh nghiệp là yếu tố then chốt. Nước CHDCND Lào đã định hướng phát triển trường cao đẳng kỹ thuật đến năm 2030, tập trung vào việc tạo ra nguồn nhân lực có khả năng nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ [tr. 111]. Đây là lộ trình rõ ràng để các trường cao đẳng kỹ thuật Việt Nam tham khảo, xây dựng tầm nhìn dài hạn cho việc phát triển đội ngũ và chuẩn đầu ra đào tạo CĐ phù hợp với yêu cầu của quốc gia và khu vực. Hướng tới một tương lai nơi giáo dục nghề nghiệp 4.0 thực sự tạo ra giá trị bền vững.

6.1. Phát huy hiệu quả tiếp cận năng lực cho sự phát triển chuyên môn giảng viên

Việc phát huy hiệu quả tiếp cận năng lực là trọng tâm cho sự phát triển chuyên môn giảng viên trong tương lai. Điều này đòi hỏi các trường phải thực sự coi cá nhân giảng viên là trọng tâm, quan tâm đến nguyện vọng và động cơ của họ để khuyến khích tự phát triển [tr. 31]. Khi giảng viên được trao quyền và tạo điều kiện, họ sẽ chủ động hơn trong việc tìm kiếm các cơ hội bồi dưỡng giảng viên cao đẳng, cập nhật kiến thức công nghệ cho giảng viên và áp dụng các phương pháp giảng dạy tích cực CĐ. Mô hình phát triển đội ngũ giảng viên cần kết hợp hài hòa giữa phát triển cá nhân và phát triển tổ chức nhà trường, tạo nên mối quan hệ bền chặt, thúc đẩy sự hợp tác và chia sẻ kinh nghiệm [tr. 32]. Qua đó, mỗi giảng viên sẽ không chỉ đạt được chuẩn năng lực giảng viên kỹ thuật mà còn vượt lên, trở thành người tiên phong trong việc đổi mới phương pháp đào tạo CĐ kỹ thuật.

6.2. Đề xuất chiến lược giáo dục nghề nghiệp 4.0 và chuẩn đầu ra đào tạo CĐ

Để đáp ứng yêu cầu của giáo dục nghề nghiệp 4.0, các trường cao đẳng kỹ thuật cần đề xuất và triển khai các chiến lược phát triển đồng bộ. Điều này bao gồm việc thường xuyên rà soát và cập nhật chuẩn đầu ra đào tạo CĐ theo nhu cầu của thị trường lao động và các xu hướng công nghệ mới. Song song đó, việc tăng cường liên kết doanh nghiệp trong đào tạo sẽ giúp định hình các kỹ năng cần thiết và đảm bảo sinh viên có việc làm sau khi tốt nghiệp. Giảng viên cần được đào tạo để nắm vững công nghệ giảng dạy CĐ kỹ thuật tiên tiến, biến các phòng học thành môi trường thực hành ảo, tăng cường tính tương tác. Mục tiêu là xây dựng một hệ sinh thái GDNN năng động, nơi năng lực giảng viên CĐ kỹ thuật được phát huy tối đa, đóng góp vào sự phát triển chung của quốc gia và khu vực, đáp ứng yêu cầu về nâng cao chất lượng đào tạo nghề.

27/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG KỸ THUẬT 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu về đội ngũ giảng viên trường cao đẳng kỹ thuật theo tiếp cận năng lực Hội nghị Quốc tế về giáo dục thế kỉ XXI "Tầm nhìn và hành động" (1998) đã nêu lên 11 năng lực cần có của một giảng viên, bao gồm: (1) có kiến thức và sự thông hiểu về các cách học khác nhau của sinh viên; (2) có kiến thức, năng lực và thái độ về theo dõi đánh giá sinh viên nhằm giúp họ tiến bộ; (3) tự nguyện hoàn thiện bản thân trong ngành nghề của mình; (4) biết ứng dụng những tiêu chí nghề nghiệp và luôn luôn cập nhật những thành tựu mới nhất; (5) biết ứng dụng những thành tựu của công nghệ thông tin, về môn học, ngành học của mình; (6) có khả năng nhận biết được tín hiệu của thị trường bên ngoài về nhu cầu của giới chủ đối với sinh viên tốt nghiệp; (7) làm chủ được những thành tựu mới về dạy và học, các cách dạy học; (8) chú ý đến quan điểm và mong ước của khách hàng; (9) hiểu được những tác động của nhân tố quốc tế và đa văn hóa đối với các chương trình đào tạo; (10) có khả năng dạy nhiều loại hình sinh viên khác nhau; bảo đảm các giờ giảng chính khóa, seminar hoặc tại các xưởng sản xuất với số lượng sinh viên đông; (11) có khả năng hiểu được những "chiến lược thích ứng" nghề nghiệp của các cá nhân [49, tr. Một số nghiên cứu của các thành viên thuộc Tổ chức Hợp tác phát triển Châu Âu (OECD) cũng chỉ ra 05 mặt của nhà giáo gồm: (1) Kiến thức phong phú về nội dung chương trình và bộ môn mình dạy; (2) Kỹ năng sư phạm, kiến thức về phương pháp dạy học và năng lực sử dụng những phương pháp đó; (3) Có tư duy phê phán trước mỗi vấn đề và NL tự phê; (4) Biết tôn trọng và cam kết tôn trọng phẩm giá của người khác; (5) Có NL quản lý, kể cả trách nhiệm quản lý trong và ngoài lớp học [theo 50].

Kết quả của Dự án Phát triển GDĐH định hướng nghề nghiệp ứng dụng ở Việt Nam (gọi tắt là POHE) do Bộ GD&ĐT chủ trì thực hiện cùng với đối tác là Trường Đại học Saxion và tài trợ của chính phủ Hà Lan xây dựng Chuẩn năng lực giảng viên GDĐH định hướng nghề nghiệp ứng dụng (gọi tắt là Chuẩn năng lực 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com giảng viên bao gồm 5 NL: năng lực chuyên môn; năng lực dạy học; năng lực phát triển và hướng dẫn, sử dụng chương trình đào tạo; năng lực quan hệ với thế giới nghề nghiệp; năng lực phát triển nghề nghiệp và năng lực nghiên cứu khoa học ứng dụng nhằm nâng cao chất lượng cho giảng viên. Tuy cùng cách tiếp cận năng lực (Khung năng lực của giảng viên POHE được đề xuất theo hướng khung năng lực gồm các chuẩn về kiến thức, kỹ năng, thái độ) và cùng đối tượng là giảng viên. Những nghiên cứu chưa có bộ công cụ đánh giá tiêu chuẩn tương ứng với khung năng lực của giảng viên POHE và chưa đề cập đến đối tượng giảng viên các trường cao đẳng kỹ thuật theo định hướng thực hành nghề nghiệp. Các công trình nghiên cứu về năng lực của giáo viên, giảng viên dạy nghề (GVDN) ở các nước phương Tây tiêu biểu có: (1) Viện Dạy nghề Cộng hòa Liên bang Đức trong đề tài nghiên cứu về năng lực của GVDN, trong đó đề tài “Đào tạo giáo viên dạy nghề chuyên sâu theo năng lực” đã khẳng định: năng lực của mỗi người không giống nhau, có người thiên về năng lực trí tuệ, có người thiên về năng lực thực hành, số ít người có năng lực toàn diện; từ đó đề xuất đào tạo giáo viên dạy nghề theo 3 loại: giáo viên chuyên dạy lý thuyết, giáo viên chuyên dạy thực hành, giáo viên dạy cả lý thuyết và thực hành.

(2) Trên cơ sở phân loại giảng viên, tập trung ĐTBD chuyên sâu theo dạng chuyên môn hóa. Viện Nghiên cứu Dạy nghề Vương quốc Anh có đề tài: “năng lực sư phạm kỹ thuật - yếu tố quyết định tạo nên nhân cách toàn diện của người giảng viên dạy nghề” [theo 48]; kết quả nghiên cứu được sử dụng để cải tiến nội dung giảng dạy tại các khoa sư phạm kỹ thuật ở các trường Đại học Tổng hợp, làm cơ sở xây dựng chương trình bồi dưỡng giảng viên dạy nghề. Năm 2011, Cục Đào tạo và việc làm, Bộ Lao động Mỹ (Employment and Training Administration - ETA), đề xuất phát triển mô hình năng lực có cấu trúc hình kim tự tháp gồm 4 lớp: (1) năng lực kiến thức chuyên môn (Specific Knowledge Competencies); (2) năng lực phương pháp kỹ thuật (Specific Technical Competencies); (3) năng lực chuyên gia, tư vấn kỹ thuật (Specific Requirements); (4) năng lực quản lý (Management Competencies). Tất cả 4 lớp năng lực trên được đặt trên năng lực nền tảng, cơ bản cá nhân (generic competencies) hay năng lực cốt lõi (core) xuyên chức năng (cross-functional) gồm: Kỹ năng giao tiếp; Liêm chính); Tính chuyên nghiệp; Sáng tạo; Độ tin cậy; Sẵn sàng để tìm hiểu; Chất lượng, hiệu quả cá 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhân [106, tr.

Các công trình nghiên cứu về năng lực của giáo viên, giảng viên dạy nghề tại Việt Nam đã đề cập các khía cạnh khác nhau: (1) Theo Nguyễn Viết Sự [76] cho rằng chuẩn tối thiểu có ba năng lực cốt lõi của người giảng viên, giảng viên dạy nghề: năng lực nghề nghiệp chuyên môn, năng lực sư phạm và năng lực hỗ trợ (công nghệ thông tin, Internet, ngoại ngữ, giao tiếp); (2) Năm 2000, Nguyễn Đức Trí chủ trì đề tài nghiên cứu “Mô hình đào tạo giảng viên kỹ thuật trình độ đại học cho các trường trung học chuyên nghiệp và dạy nghề”. Đề tài đưa ra mô hình nhân cách, mô hình hoạt động của người giảng viên làm cơ sở để xác định mô hình đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ giảng viên trung học chuyên nghiệp và dạy nghề [68]. Trên các Tạp chí khoa học giáo dục nhiều bài viết về mô hình năng lực người giảng viên có thể kể đến như: Theo Nguyễn Hữu Lam, mô hình năng lực của người giảng viên gồm ba thành tố (năng lực chuyên môn, năng lực giảng dạy, năng lực nghiên cứu) và để phát triển đội ngũ giảng viên cần xây dựng một bộ năng lực tối thiểu cần thiết cho giảng viên theo mô hình năng lực trên để phát triển năng lực giảng viên nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo trong các trường đại học, cao đẳng trong điều kiện toàn cầu hóa và bùng nổ tri thức hiện nay. Đặng Thành Hưng (2016), cho rằng cần bốn năng lực cơ bản: năng lực trí tuệ nghề nghiệp hay tri thức nghề nghiệp, năng lực hành nghề hay kỹ năng nghề nghiệp, năng lực thực thi đạo đức nghề nghiệp, năng lực thực thi văn hóa nghề nghiệp [dẫn theo 55, tr.

Trần Thị Tuyết Oanh và các cộng sự đã chỉ ra bốn năng lực cơ bản của người giảng viên, đó là: năng lực chuyên môn, năng lực xã hội, năng lực phương pháp và năng lực phát triển. Từ đó, phát triển đội ngũ giảng viên, trước tiên phải phát triển những năng lực này ở người giảng viên [66]. (3) Tác giả Phạm Hồng Quang trong bài "Giải pháp đào tạo giáo viên theo định hướng năng lực" đăng trên Tạp chí Giáo dục, số 216 (6/2009) đã nhấn mạnh năng lực giáo viên - yếu tố cơ bản quyết định chất lượng giáo dục và nêu ra bốn giải pháp đào tạo bồi dưỡng giáo viên theo quan điểm mới của UNESCO. Theo tác giả 10 lĩnh vực năng lực của giáo viên cần có gồm: năng lực xác định bối cảnh, năng lực về khái niệm, năng lực về chương trình và nội dung, năng lực giải quyết, năng lực trong các hoạt 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com động giáo dục, năng lực liên quan đến tài liệu học tập và giảng dạy, năng lực đánh giá, năng lực quản lý, năng lực liên quan đến việc xúc tác và hợp tác với phụ huynh học sinh, sinh viên và năng lực liên quan đến việc xúc tác, hợp tác với cộng đồng, xã hội [70].

Nhưng đó chỉ là các năng lực thành phần của năng lực sư phạm (giảng dạy và quản lý hoạt động giáo dục) của nhà giáo nói chung mà chưa thể hiện đầy đủ các năng lực cần có để phù hợp với đặc thù hoạt động đào tạo nghề nghiệp của giảng viên cao đẳng và đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục nghề nghiệp hiện nay. - Trên Tạp chí Dạy nghề tại Việt Nam, năng lực của giảng viên dạy nghề được đề cập trong các bài viết: (1) “Phát triển kỹ năng nghề trong hội nhập” của Phan Chính Thức (2014) cho rằng, năng lực của người giảng viên bao gồm ba thành tố: năng lực chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm và năng lực xã hội; trong đó, năng lực chuyên môn (thể hiện ở trình độ kĩ năng nghề nghiệp) và năng lực sư phạm là hai yếu tố quan trọng nhất để đảm bảo đào tạo kĩ năng nghề nghiệp cho sinh viên thích ứng với nhu cầu nhân lực thị trường lao động [76, tr. (2) "năng lực cơ bản của giáo viên dạy nghề" của Đặng Thành Hưng (2016) cho rằng mô hình năng lực nghề nghiệp của giảng viên dạy nghề tối thiểu bao gồm: năng lực kỹ thuật chung, năng lực đặc trưng nghề và năng lực sư phạm [76, tr.36, 37, 38]; trong đó, nhấn mạnh năng lực kỹ thuật chung (gồm năng lực nhận thức kỹ thuật, năng lực thiết kế kỹ thuật, năng lực quản lý kỹ thuật, năng lực chế tạo kỹ thuật) và đưa ra hệ thống các kiến thức, kỹ năng tối thiểu cụ thể tương ứng với 3 nhóm năng lực theo tiếp cận năng lực thực hành đối với giảng viên dạy nghề. Tuy nghiên cứu cùng cách tiếp cận năng lực (cách tiếp cận mà đề tài đang nghiên cứu) nhưng khung năng lực tác giả nêu trên là chung cho các đối tượng giảng viên, giáo viên dạy nghề nên còn tổng quát và thiếu cụ thể các năng lực bổ trợ cần thiết trong hoạt động giáo dục nghề nghiệp hiện nay như: năng lực quản lý, năng lực hội nhập, năng lực học tập và năng lực hoạt động chính trị - xã hội.

Tại nước CHDCND Lào, Đại hội IX Đảng nhân dân cách mạng Lào năm 2011 hướng phát triển giáo dục cho những năm sau vẫn là đào tạo nguồn nhân lực đó là công nhân chuyên nghiệp, cán bộ chuyên môn, cán bộ quản lý giỏi để sẵn sàng cho sự phát triển ngày càng cao và đủ để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội [11].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ