Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG KỸ THUẬT 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu về đội ngũ giảng viên trường cao đẳng kỹ thuật theo tiếp cận năng lực Hội nghị Quốc tế về giáo dục thế kỉ XXI "Tầm nhìn và hành động" (1998) đã nêu lên 11 năng lực cần có của một giảng viên, bao gồm: (1) có kiến thức và sự thông hiểu về các cách học khác nhau của sinh viên; (2) có kiến thức, năng lực và thái độ về theo dõi đánh giá sinh viên nhằm giúp họ tiến bộ; (3) tự nguyện hoàn thiện bản thân trong ngành nghề của mình; (4) biết ứng dụng những tiêu chí nghề nghiệp và luôn luôn cập nhật những thành tựu mới nhất; (5) biết ứng dụng những thành tựu của công nghệ thông tin, về môn học, ngành học của mình; (6) có khả năng nhận biết được tín hiệu của thị trường bên ngoài về nhu cầu của giới chủ đối với sinh viên tốt nghiệp; (7) làm chủ được những thành tựu mới về dạy và học, các cách dạy học; (8) chú ý đến quan điểm và mong ước của khách hàng; (9) hiểu được những tác động của nhân tố quốc tế và đa văn hóa đối với các chương trình đào tạo; (10) có khả năng dạy nhiều loại hình sinh viên khác nhau; bảo đảm các giờ giảng chính khóa, seminar hoặc tại các xưởng sản xuất với số lượng sinh viên đông; (11) có khả năng hiểu được những "chiến lược thích ứng" nghề nghiệp của các cá nhân [49, tr. Một số nghiên cứu của các thành viên thuộc Tổ chức Hợp tác phát triển Châu Âu (OECD) cũng chỉ ra 05 mặt của nhà giáo gồm: (1) Kiến thức phong phú về nội dung chương trình và bộ môn mình dạy; (2) Kỹ năng sư phạm, kiến thức về phương pháp dạy học và năng lực sử dụng những phương pháp đó; (3) Có tư duy phê phán trước mỗi vấn đề và NL tự phê; (4) Biết tôn trọng và cam kết tôn trọng phẩm giá của người khác; (5) Có NL quản lý, kể cả trách nhiệm quản lý trong và ngoài lớp học [theo 50].
Kết quả của Dự án Phát triển GDĐH định hướng nghề nghiệp ứng dụng ở Việt Nam (gọi tắt là POHE) do Bộ GD&ĐT chủ trì thực hiện cùng với đối tác là Trường Đại học Saxion và tài trợ của chính phủ Hà Lan xây dựng Chuẩn năng lực giảng viên GDĐH định hướng nghề nghiệp ứng dụng (gọi tắt là Chuẩn năng lực 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com giảng viên bao gồm 5 NL: năng lực chuyên môn; năng lực dạy học; năng lực phát triển và hướng dẫn, sử dụng chương trình đào tạo; năng lực quan hệ với thế giới nghề nghiệp; năng lực phát triển nghề nghiệp và năng lực nghiên cứu khoa học ứng dụng nhằm nâng cao chất lượng cho giảng viên. Tuy cùng cách tiếp cận năng lực (Khung năng lực của giảng viên POHE được đề xuất theo hướng khung năng lực gồm các chuẩn về kiến thức, kỹ năng, thái độ) và cùng đối tượng là giảng viên. Những nghiên cứu chưa có bộ công cụ đánh giá tiêu chuẩn tương ứng với khung năng lực của giảng viên POHE và chưa đề cập đến đối tượng giảng viên các trường cao đẳng kỹ thuật theo định hướng thực hành nghề nghiệp. Các công trình nghiên cứu về năng lực của giáo viên, giảng viên dạy nghề (GVDN) ở các nước phương Tây tiêu biểu có: (1) Viện Dạy nghề Cộng hòa Liên bang Đức trong đề tài nghiên cứu về năng lực của GVDN, trong đó đề tài “Đào tạo giáo viên dạy nghề chuyên sâu theo năng lực” đã khẳng định: năng lực của mỗi người không giống nhau, có người thiên về năng lực trí tuệ, có người thiên về năng lực thực hành, số ít người có năng lực toàn diện; từ đó đề xuất đào tạo giáo viên dạy nghề theo 3 loại: giáo viên chuyên dạy lý thuyết, giáo viên chuyên dạy thực hành, giáo viên dạy cả lý thuyết và thực hành.
(2) Trên cơ sở phân loại giảng viên, tập trung ĐTBD chuyên sâu theo dạng chuyên môn hóa. Viện Nghiên cứu Dạy nghề Vương quốc Anh có đề tài: “năng lực sư phạm kỹ thuật - yếu tố quyết định tạo nên nhân cách toàn diện của người giảng viên dạy nghề” [theo 48]; kết quả nghiên cứu được sử dụng để cải tiến nội dung giảng dạy tại các khoa sư phạm kỹ thuật ở các trường Đại học Tổng hợp, làm cơ sở xây dựng chương trình bồi dưỡng giảng viên dạy nghề. Năm 2011, Cục Đào tạo và việc làm, Bộ Lao động Mỹ (Employment and Training Administration - ETA), đề xuất phát triển mô hình năng lực có cấu trúc hình kim tự tháp gồm 4 lớp: (1) năng lực kiến thức chuyên môn (Specific Knowledge Competencies); (2) năng lực phương pháp kỹ thuật (Specific Technical Competencies); (3) năng lực chuyên gia, tư vấn kỹ thuật (Specific Requirements); (4) năng lực quản lý (Management Competencies). Tất cả 4 lớp năng lực trên được đặt trên năng lực nền tảng, cơ bản cá nhân (generic competencies) hay năng lực cốt lõi (core) xuyên chức năng (cross-functional) gồm: Kỹ năng giao tiếp; Liêm chính); Tính chuyên nghiệp; Sáng tạo; Độ tin cậy; Sẵn sàng để tìm hiểu; Chất lượng, hiệu quả cá 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhân [106, tr.
Các công trình nghiên cứu về năng lực của giáo viên, giảng viên dạy nghề tại Việt Nam đã đề cập các khía cạnh khác nhau: (1) Theo Nguyễn Viết Sự [76] cho rằng chuẩn tối thiểu có ba năng lực cốt lõi của người giảng viên, giảng viên dạy nghề: năng lực nghề nghiệp chuyên môn, năng lực sư phạm và năng lực hỗ trợ (công nghệ thông tin, Internet, ngoại ngữ, giao tiếp); (2) Năm 2000, Nguyễn Đức Trí chủ trì đề tài nghiên cứu “Mô hình đào tạo giảng viên kỹ thuật trình độ đại học cho các trường trung học chuyên nghiệp và dạy nghề”. Đề tài đưa ra mô hình nhân cách, mô hình hoạt động của người giảng viên làm cơ sở để xác định mô hình đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ giảng viên trung học chuyên nghiệp và dạy nghề [68]. Trên các Tạp chí khoa học giáo dục nhiều bài viết về mô hình năng lực người giảng viên có thể kể đến như: Theo Nguyễn Hữu Lam, mô hình năng lực của người giảng viên gồm ba thành tố (năng lực chuyên môn, năng lực giảng dạy, năng lực nghiên cứu) và để phát triển đội ngũ giảng viên cần xây dựng một bộ năng lực tối thiểu cần thiết cho giảng viên theo mô hình năng lực trên để phát triển năng lực giảng viên nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo trong các trường đại học, cao đẳng trong điều kiện toàn cầu hóa và bùng nổ tri thức hiện nay. Đặng Thành Hưng (2016), cho rằng cần bốn năng lực cơ bản: năng lực trí tuệ nghề nghiệp hay tri thức nghề nghiệp, năng lực hành nghề hay kỹ năng nghề nghiệp, năng lực thực thi đạo đức nghề nghiệp, năng lực thực thi văn hóa nghề nghiệp [dẫn theo 55, tr.
Trần Thị Tuyết Oanh và các cộng sự đã chỉ ra bốn năng lực cơ bản của người giảng viên, đó là: năng lực chuyên môn, năng lực xã hội, năng lực phương pháp và năng lực phát triển. Từ đó, phát triển đội ngũ giảng viên, trước tiên phải phát triển những năng lực này ở người giảng viên [66]. (3) Tác giả Phạm Hồng Quang trong bài "Giải pháp đào tạo giáo viên theo định hướng năng lực" đăng trên Tạp chí Giáo dục, số 216 (6/2009) đã nhấn mạnh năng lực giáo viên - yếu tố cơ bản quyết định chất lượng giáo dục và nêu ra bốn giải pháp đào tạo bồi dưỡng giáo viên theo quan điểm mới của UNESCO. Theo tác giả 10 lĩnh vực năng lực của giáo viên cần có gồm: năng lực xác định bối cảnh, năng lực về khái niệm, năng lực về chương trình và nội dung, năng lực giải quyết, năng lực trong các hoạt 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com động giáo dục, năng lực liên quan đến tài liệu học tập và giảng dạy, năng lực đánh giá, năng lực quản lý, năng lực liên quan đến việc xúc tác và hợp tác với phụ huynh học sinh, sinh viên và năng lực liên quan đến việc xúc tác, hợp tác với cộng đồng, xã hội [70].
Nhưng đó chỉ là các năng lực thành phần của năng lực sư phạm (giảng dạy và quản lý hoạt động giáo dục) của nhà giáo nói chung mà chưa thể hiện đầy đủ các năng lực cần có để phù hợp với đặc thù hoạt động đào tạo nghề nghiệp của giảng viên cao đẳng và đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục nghề nghiệp hiện nay. - Trên Tạp chí Dạy nghề tại Việt Nam, năng lực của giảng viên dạy nghề được đề cập trong các bài viết: (1) “Phát triển kỹ năng nghề trong hội nhập” của Phan Chính Thức (2014) cho rằng, năng lực của người giảng viên bao gồm ba thành tố: năng lực chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm và năng lực xã hội; trong đó, năng lực chuyên môn (thể hiện ở trình độ kĩ năng nghề nghiệp) và năng lực sư phạm là hai yếu tố quan trọng nhất để đảm bảo đào tạo kĩ năng nghề nghiệp cho sinh viên thích ứng với nhu cầu nhân lực thị trường lao động [76, tr. (2) "năng lực cơ bản của giáo viên dạy nghề" của Đặng Thành Hưng (2016) cho rằng mô hình năng lực nghề nghiệp của giảng viên dạy nghề tối thiểu bao gồm: năng lực kỹ thuật chung, năng lực đặc trưng nghề và năng lực sư phạm [76, tr.36, 37, 38]; trong đó, nhấn mạnh năng lực kỹ thuật chung (gồm năng lực nhận thức kỹ thuật, năng lực thiết kế kỹ thuật, năng lực quản lý kỹ thuật, năng lực chế tạo kỹ thuật) và đưa ra hệ thống các kiến thức, kỹ năng tối thiểu cụ thể tương ứng với 3 nhóm năng lực theo tiếp cận năng lực thực hành đối với giảng viên dạy nghề. Tuy nghiên cứu cùng cách tiếp cận năng lực (cách tiếp cận mà đề tài đang nghiên cứu) nhưng khung năng lực tác giả nêu trên là chung cho các đối tượng giảng viên, giáo viên dạy nghề nên còn tổng quát và thiếu cụ thể các năng lực bổ trợ cần thiết trong hoạt động giáo dục nghề nghiệp hiện nay như: năng lực quản lý, năng lực hội nhập, năng lực học tập và năng lực hoạt động chính trị - xã hội.
Tại nước CHDCND Lào, Đại hội IX Đảng nhân dân cách mạng Lào năm 2011 hướng phát triển giáo dục cho những năm sau vẫn là đào tạo nguồn nhân lực đó là công nhân chuyên nghiệp, cán bộ chuyên môn, cán bộ quản lý giỏi để sẵn sàng cho sự phát triển ngày càng cao và đủ để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội [11].