đặt vấn đề nghiên cứu về nâng cao năng lực cạnh tranh, năng lực vận tải, nâng cao chất lượng dịch vụ cho VNA. Ví dụ, trong nghiên cứu của Cao Trí Tuệ (2004), cho thấy một số giải pháp mang tính thời sự đối với việc nâng cao năng lực cạnh tranh vận tải hàng không cho VNA giai đoạn 2004 đến năm 2010. Một nghiên cứu tương tự của Lê Thu Hằng (2004) cũng chỉ ra rằng việc nâng cao năng lực cạnh tranh của VNA cũng phải thông qua các giải pháp mang tính chiến lược. Cả hai nghiên cứu trên, đều cho thấy có những mối liên hệ giữa các yếu tố của môi trường bên ngoài, môi trường nội bộ đến năng lực vận tải của VNA.
Nghiên cứu trong luận án tiến sỹ kinh tế của Nguyễn Hải Quang (2008) về định hướng phát triển hàng không Việt Nam theo mô hình tập đoàn kinh tế cũng sử dụng mô hình quản trị chiến lược của Fred David khi phân tích điều kiện bên trong, bên ngoài, môi trường kinh doanh của ngành hàng không Việt Nam để đưa ra các phương án và giải pháp xây dựng tập đoàn hàng không Việt Nam. Nghiên cứu của George A. Benway (1998) cho Campell Soup Company của Mỹ về chiến lược phát triển thị trường sản phẩm ra nước ngoài và tăng trưởng có sử dụng các kỹ thuật phân tích như phân tích SWOT, phân tích các chỉ số tài chính, ma trận SPACE, ma trận QSPM Luận văn thạc sĩ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - 12 - cũng đã đưa ra được những kết luận và gợi ý rất thiết thực. Một nghiên cứu vào năm 2000 bởi chính các nhân viên chiến lược của Hãng giày thể thao nổi tiếng NIKE của Mỹ nhằm tìm hiểu cũng như nhận biết vị trí, năng lực của Hãng cũng sử dụng một cách đầy đủ và rất khoa học các công cụ, lý thuyết quản trị chiến lược khi phân tích chi tiết các yếu tố về tầm nhìn, sứ mạng, khẩu hiệu, nhân sự, lãnh đạo, phân tích ngành, đối thủ cạnh tranh, môi trường bên trong, môi trường bên ngoài…để đề ra các chiến lược ngắn hạn và dài hạn hợp lý.
LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC 1. Khái quát về quản trị 1 Quản trị là một quá trình nhằm đạt đến sự thành công trong các mục tiêu đề ra bằng việc phối hợp hữu hiệu các nguồn lực của doanh nghiệp. Từ khái niệm này ta thấy rằng, quản trị là những hoạt động liên tục và cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của mọi tổ chức. Mục tiêu của quản trị là tạo ra giá trị thặng dư, tức là tìm ra phương thức thích hợp để thực hiện công việc nhằm đạt hiệu quả cao nhất với chi phí các nguồn lực tốt nhất.
Hay nói một cách khác: công tác quản trị trong doanh nghiệp là quá trình lập kế hoạch, tổ chức phối hợp và điều chỉnh các hoạt động của các thành viên, các bộ phận và các chức năng trong doanh nghiệp nhằm huy động tối đa mọi nguồn lực để đạt được các mục tiêu đã đặt ra của tổ chức. Theo Henry Fayol (1841-1925), quản trị có 4 chức năng cơ bản là: lập kế hoạch (hoạch định), tổ chức, lãnh đạo (điều khiển), kiểm tra giám sát trong quá trình kinh doanh.4- Phụ lục 4) - Chức năng hoạch định (Planning): Xác định rõ hệ thống mục tiêu của tổ chức, Lựa chọn chiến lược tổng thể để đạt mục tiêu, Thiết lập một hệ thống các kế hoạch để hội nhập và phối hợp các hoạt động. - Chức năng tổ chức (Organizing): Xác định những nhiệm vụ phải làm, phân công người thực hiện những nhiệm vụ đó; xây dựng những bộ phận cần thiết và quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi bộ phận. Thiết lập các mối quan hệ giữa các bộ phận và thành viên trong tổ chức.
1 Nguyễn Thị Liên Diệp, Phạm Văn Nam “Chiến lược và Chính sách Kinh Doanh”, NXB Lao động - xã hội, 2006, Tr.,10 Luận văn thạc sĩ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - 13 - - Chức năng điều khiển (Directing): Thực hiện động viên, khuyến khích và phối hợp mỗi người thực hiện các mục tiêu quản trị đã đề ra. Giải quyết các xung đột trong tập thể, đưa tổ chức đi theo đúng quỹ đạo dự kiến. - Chức năng kiểm tra (Reviewing): Thu thập thông tin về kết quả thực hiện của các mục tiêu trên thực tế. Nếu có sự chênh lệch so với dự kiến đã đặt ra, sự điều chỉnh sẽ được thực hiện.
Đề ra các biện pháp khắc phục sự sai lệch kịp thời nhằm bảo đảm mục tiêu được thực hiện. Ngoài ra trong quá trình quản trị chiến lược một công việc rất quan trọng đó là quá trình ra các quyết định. Bất cứ một quyết định nào đều phải trải qua các bước sau: phân tích cụ thể vấn đề, tìm hiểu bản chất thực sự của vấn đề; xây dựng các phương án có thể xảy ra, có thể có; so sánh và chọn ra phương án khả thi nhất; chọn phương án tối ưu; thực hiện phương án đã chọn; đánh giá kết quả thực hiện. Khái niệm chiến lược Trước khi đi đến định nghĩa chiến lược một cách đầy đủ nhất, chúng ta xem qua một số khái niệm chiến lược của một số nhà kinh tế, quản trị trước đây: - Theo giáo sư Alfred D.Chandler, 1962: “Chiến lược là yếu tố quyết định mục tiêu dài hạn của tổ chức.” - Chiến lược là mô hình về các mục tiêu, chủ đích và các kế hoạch để đạt mục tiêu đó (Rennerth L.
- Theo giáo sư Igor Ansoff, 1965: “Chiến lược là sợi chỉ đỏ xuyên suốt các hành động của tổ chức.B đưa ra định nghĩa mang tính khái quát: “Chiến lược là mô thức hay kế hoạch tích hợp các mục tiêu chính yếu, các chính sách, và chuỗi hành động vào một tổng thể được cố kết một cách chặt chẽ.” Gần đây, vào năm 1999, Johnson G., định nghĩa chiến lược như sau: “Chiến lược là việc xác định định hướng và phạm vị hoạt động của một tổ chức trong dài hạn, ở đó tổ chức phải giành được lợi thế cạnh tranh thông qua việc kết hợp các nguồn lực của nó trong một môi trường nhiều thử thách, nhằm thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của thị trường và đáp ứng mong muốn của các tác nhân liên Luận văn thạc sĩ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - 14 - quan đến tổ chức”1. Theo định nghĩa này, chiến lược của một doanh nghiệp được hình thành để trả lời các câu hỏi sau: (Hình 1.1 - Phụ lục 3) Hoạt động kinh doanh sẽ diễn ra ở đâu trong dài hạn? (định hướng). Hoạt động kinh doanh sẽ cạnh tranh trên thị trường sản phẩm nào và phạm vi các hoạt động? (thị trường, phạm vi hoạt động). Bằng cách nào hoạt động kinh doanh được tiến hành tốt hơn so với đối thủ cạnh tranh trên thị trường? (lợi thế).
Nguồn lực nào (kỹ năng, tài sản, tài chính, nhân sự, công nghệ, thương hiệu…) cần thiết để tạo ra lợi thế cạnh tranh? (nguồn lực). Các nhân tố thuộc môi trường bên ngoài tác động đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp? (môi trường). Theo Michael Porter (1996), “Chiến lược là việc tạo ra một sự hài hòa giữa các hoạt động của một công ty. Sự thành công của chiến lược chủ yếu dựa vào việc tiến hành tốt nhiều việc và kết hợp chúng với nhau.
Cốt lõi của chiến lược là lựa chọn cái chưa làm”2. Theo cách tiếp cận này, chiến lược là tạo ra sự khác biệt trong cạnh tranh, tìm và thực hiện cái chưa được làm (what not to do). Bản chất của chiến lược là xây dựng được lợi thế cạnh tranh (competitive advantages), chiến lược chỉ tồn tại trong các hoạt động duy nhất (unique activities). Chiến lược là xây dựng một vị trí duy nhất và có giá trị tác động một nhóm các hoạt động khác biệt.
Chiến lược được hiểu một cách tổng quát là tập hợp các mục tiêu và chính sách đặt ra trong một thời gian dài trên cơ sở khai thác tối đa các nguồn lực của tổ chức nhằm đạt được những mục tiêu phát triển. Do đó, chiến lược cần được đặt ra như là kế hoạch hoặc sơ đồ tác nghiệp tổng quát chỉ hướng cho doanh nghiệp đạt đến mục tiêu mong muốn. Vì thế, chiến lược đề ra phải hội đủ đồng thời các yếu tố sau: chiến lược phải tăng thế lực, tạo ra sự phát triển và một vị thế cạnh tranh tốt nhất; chiến lược phải đảm bảo sự an toàn kinh doanh cho doanh nghiệp; phải được vạch ra trong thời gian đủ dài để thực hiện; phải khai thác tối đa các nguồn lực và sử dụng hợp lý các nguồn lực hiện có; phải xác định phạm vi kinh doanh, mục tiêu và những điều kiện cơ bản để thực hiện mục tiêu; phải có chiến lược dự phòng; phải dự đoán được môi trường kinh doanh trong tương lai; phải kết hợp độ chín muồi và thời cơ kinh doanh. 1 Johnson & Scholes (2002), “Strategy Formulation”.
Porter, “Chiến lược cạnh tranh”, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật - Hà Nội, 1996. Luận văn thạc sĩ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Quản trị chiến lược - Lý thuyết và mô hình áp dụng quá trình quản trị chiến lược của doanh nghiệp trong luận văn. Quản trị chiến lược là quá trình nghiên cứu các môi trường hiện tại cũng như tương lai, hoạch định các mục tiêu của tổ chức; đề ra, thực hiện và kiểm tra việc thực hiện các quyết định nhằm đạt được các mục tiêu đó trong môi trường hiện tại cũng như trong tương lai nhằm tăng thế lực cho doanh nghiệp (Garry D.Smith, 1994)1 Quản trị chiến lược kinh doanh là quá trình mà trong đó các nhà quản trị xác định mục tiêu trong một thời gian dài và đề ra các biện pháp lớn có tính định hướng để đạt mục tiêu trên cơ sở sử dụng tối đa các nguồn lực hiện có và những nguồn lực có khả năng huy động của doanh nghiệp.
Dưới đây là quy trình quản trị chiến lược cơ bản được áp tại hầu hết các doanh nghiệp khi thực hiện các chiến lược kinh doanh: Chức năng nhiệm vụ và mục tiêu Doanh Phân tích môi trường Phân tích môi trường nội bộ (S/W) bên ngoài (T/O) Chọn chiến lược thích hợp Triển khai thực hiện chiến lược Kiểm tra và đánh giá kết quả thực hiện Phản hồi Sơ đồ 1.5: Các thành tố của quá trình quản trị chiến lược Nguồn: PGS.Nguyễn Thị Liên Diệp (2006), “Chiến lược và Chính sách Kinh Doanh”, NXB Lao động - xã hội. Để tạo nên một chiến lược hài hòa và hữu hiệu cần xét đến các yếu tố có thể tác động đến chiến lược như: điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp, các cơ hội và nguy cơ thuộc môi trường bên ngoài, mục tiêu, nhiệm vụ của doanh ghiệp…Từ 1 Gary Smith, Danny R.