Chương 1: Tiềm năng du lịch văn hóa của tiểu vùng du lịch miền núi Tây Bắc Chương 2: Hoạt động du lịch văn hóa tại tiểu vùng du lịch miền núi Tây Bắc Chương 3: Giải pháp phát triển du lịch văn hóa cho tiểu vùng du lịch miền núi Tây Bắc Luận văn cao học 4 Nguyễn Thị Huyền LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Phát triển du lịch văn hóa tiểu vùng du lịch miền núi Tây Bắc CHƢƠNG 1 TIỀM NĂNG DU LỊCH VĂN HÓA CỦA TIỂU VÙNG DU LỊCH MIỀN NÚI TÂY BẮC 1. Khái quát về Tiểu vùng du lịch miền núi Tây Bắc Việt Nam 1. Đặc điểm tự nhiên Theo phân định địa lý, Tây Bắc là khu vực bao gồm lãnh thổ của các tỉnh Hòa Bình, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai [33, tr. Về lãnh thổ văn hóa thì còn bao gồm tỉnh Yên Bái và một phần của tỉnh Phú Thọ.
Về mặt hành chính, vùng Tây Bắc chỉ bao gồm 3 tỉnh là Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, có khi thêm tỉnh thứ tư là Hòa Bình. Mặc dù một số phần của Lào Cai, Yên Bái và Phú Thọ nằm ở hữu ngạn sông Hồng, do dòng sông chạy qua giữa địa phận các tỉnh này, song phạm vi hành chính của vùng Tây Bắc không bao gồm các phần đó. Theo phân môn Địa lý du lịch, tiểu vùng du lịch miền núi Tây Bắc bao gồm 6 tỉnh: Hòa Bình, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái. Như vậy, Tây Bắc thực ra là tên gọi theo phương vị, lấy thủ đô Hà Nội làm điểm chuẩn.
Về căn bản, theo cách phân định nào thì về điều kiện địa lý tự nhiên, khu vực này cũng mang những đặc điểm cơ bản như sau: Biên giới của vùng phía Bắc giáp Trung Quốc, phía Tây và Nam giáp Lào, phía Đông và Nam giáp Thanh Hóa, Phú Thọ, Tây Bắc là một miền núi cao hiểm trở, địa hình chia cắt bởi các dãy núi chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam. Trong đó, dãy Hoàng Liên Sơn dài đến 180km, rộng 30km, cao từ 1500m trở lên, là đoạn tận cùng phía Đông Nam của dãy núi Himalaya. Đỉnh cao nhất là Phan-xi-păng 3.143m (có tài liệu nói là 3.142m) được người Thái gọi là Khau Luận văn cao học 5 Nguyễn Thị Huyền LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Phát triển du lịch văn hóa tiểu vùng du lịch miền núi Tây Bắc Phạ tức "sừng trời", chính là bức tường thành phía Đông của vùng Tây Bắc; một số đỉnh cao khác như Tả Giàng Phình 3.090m; Pu Sa Leng 3. Núi cao tạo nên những con đèo dài cả mấy chục cây số như Pha Đin, Lũng Lô, hay Ô Qui Hồ, Hoàng Liên Sơn, Mộc Châu,.
Do vậy, khí hậu Tây Bắc nói chung đa dạng, bao gồm nhiều vùng tiểu khí hậu. Dẫu rằng cũng nằm trong vành đai nhiệt đới gió mùa, nhưng do độ cao nên khí hậu ngả sang á nhiệt đới và nhiều nơi cao như Sìn Hồ có cả khí hậu ôn đới. Mặt khác, địa hình lại chia cắt bởi các dãy núi, dòng sông, khe suối tạo nên những thung lũng, có nơi lớn thành lòng chảo như vùng Nghĩa Lộ, Điện Biên. Trong lúc ở thung lũng Mường La, người ta mặc áo ngắn tay giữa mùa đông thì ở Mộc Châu phải mặc áo bông trong mùa hè.
Hệ thống sông, suối của Tây Bắc khá dày đặc với các con sông lớn là sông Đà và sông Hồng và phần thượng nguồn của dòng sông Mã, các dòng chảy có độ chênh lớn, hàng năm đưa nguồn phù sa vô tận về bồi đắp cho miền xuôi. Đất Tây Bắc vì thế được đồng bào gọi là đất "ba con sông", tạo nên ba dải "nước màu: trắng, xanh, đỏ". Dòng sông Mã chảy từ Điện Biên xuống đến phía Tây tỉnh Sơn La thì quặt sang đất Lào và trở về miền Tây Thanh Hóa xuôi về biển. Bởi vì sông Mã lắm thác, lắm ghềnh nên nhiều sóng bạc đầu.
Lại còn có truyền thuyết dòng sông là nữ thần canh giữ mở bạc mà xưa kia người Thái - La ha thường khai thác. Dòng sông thứ hai là Nặm Tè (sông Đà) chảy giữa các triền núi đá granít, sâu thẳm xanh đen một màu. Trên đường đi, dòng Nặm Tè hợp lưu nhiều suối nhỏ và cả một dòng sông Nặm Na ngay ở Lai Châu. Còn dòng thứ ba là Nặm Tao mang nặng phù sa thì chính người Kinh cũng gọi là sông Hồng (sông đỏ).
Vì vậy, thiên nhiên Tây Bắc rất đa dạng, thổ nhưỡng nhiều loại hình. Phần lớn đất đai Tây Bắc có độ dốc cao. Đất có độ dốc thoải tập trung vào một số cao Luận văn cao học 6 Nguyễn Thị Huyền LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Phát triển du lịch văn hóa tiểu vùng du lịch miền núi Tây Bắc nguyên lớn: Tả Phình, Sìn Hồ, Sơn La (Nà Sản, Mộc Châu) và 4 vùng lòng chảo nổi tiếng: Mường Thanh, Mường Lò, Mường Than, Mường Tấc. Độ màu mỡ của đất đai tương đối cao.
Lượng mưa lớn (trên dưới 2.000mm/năm) đã tạo ra thảm rừng quanh năm xanh tốt với nhiều loại cây rừng, chim, thú quý. Dân gian có câu "rừng vàng" có lẽ rất đúng với núi rừng Tây Bắc. Đó là nơi cư trú của rất vô số loài thú trong đó có nhiều loài quý hiếm (những khảo sát gần đây cho thấy ở hệ núi Hoàng Liên có đến 16 loài thú được ghi trong sách đỏ thế giới có nguy cơ tuyệt chủng cần được bảo vệ). Giữa cảnh núi rừng thỉnh thoảng bắt gặp những đồng lúa rộng lớn như Mường Thanh, Quang Huy hay những đồi chè bạt ngàn ở Nghĩa Lộ, Yên Bái, những đồng cỏ trù phú cho chăn nuôi bò sữa ở Mộc Châu,.
Và đặc biệt, gần đây, du khách tới Tây Bắc không thể quên được ấn tượng khi chiêm ngưỡng những vạt núi, triền núi cao chọc trời hai bên đường quốc lộ trải kín một màu xanh biếc của những thảm ngô. Những ấn tượng này đã được lưu lại trong một kiệt tác nhiếp ảnh mang tên "Ngô leo núi". Nhà địa lý Lê Bá Thảo đã có một nhận xét có lẽ khá chính xác: "Chưa ai nói rằng chúng ta đã phát hiện ra tất cả sự giàu có của thiên nhiên Tây Bắc. Ngay cả vẻ đẹp của vùng lãnh thổ này cũng khó nhận thức hết.
Đặc điểm kinh tế - xã hội Tây Bắc có vị trí quan trọng về an ninh, quốc phòng vì có đường biên giới chung với Trung Quốc và Lào dài trên 800km. Đây là vùng đầu nguồn xung yếu của sông Đà, nơi có các nhà máy thủy điện lớn của cả nước, mái nhà xanh của đồng bằng Bắc Bộ. Dải biên giới có các cửa khẩu lớn, là các cửa khẩu ra vào quan trọng để giao lưu hàng hóa, phát triển kinh tế hiện tại cũng như tương lai trong những năm tới. Luận văn cao học 7 Nguyễn Thị Huyền LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Phát triển du lịch văn hóa tiểu vùng du lịch miền núi Tây Bắc Tây Bắc là một trong những khu vực cư trú của nhiều tộc người.
Tại vùng Tây Bắc từ thời Pháp thuộc đã lập ra xứ Thái tự trị. Sau chiến thắng Điện Biên, năm 1955, Chính phủ Việt Minh đã thành lập khu tự trị Thái - Mèo, bao gồm 3 tỉnh Lai Châu, Sơn La và Nghĩa Lộ. Tên gọi này không phản ánh được sự đa dạng của cộng đồng khoảng hai chục dân tộc sinh sống tại đây và bị giải tán năm 1958. Năm 1962 gọi là khu tự trị Tây Bắc.
Khu tự trị này cũng giải thể năm 1975. Chỉ kể những dân tộc tương đối đông dân đã có Thái (với các ngành Đen, Trắng). H'Mông với các ngành Trắng, Xanh, Đen, Hoa. Dao (với các ngành Quần chẹt, Nga Hoàng, Dao đỏ, Dao đen), Mường, Khơ mú, La ha, Xinh mun, Tày,.
Ngoài ra còn có một bộ phận người Kinh vốn là con cháu nghĩa binh Hoàng Công Chất đã sống lâu đời ở đây và một bộ phận người Hoa, vốn là dòng dõi quân Lưu Vĩnh Phúc. Mỗi dân tộc đều mang bản sắc văn hóa riêng. Theo dòng lịch sử, các cơ tầng văn hóa của một quần thể dân tộc đa dạng như thế đã hợp thành những nét đẹp văn hóa vô cùng độc đáo cho miền đất này. Dân số vùng tương đối thấp, năm 1978 mới có 59 người/km2.
Với tỷ lệ tăng 3,5%/năm cộng với việc di dân, năm 1990 cũng chỉ có 120 người/km2 (Nguồn: Viện Chiến lược phát triển) [35]. Cư dân cổ truyền, những chủ nhân từ xa xưa của Tây Bắc đều làm nông nghiệp với hai loại hình: ruộng nước ở thung lũng và nương rẫy ở sườn núi. Người Thái có câu ngạn ngữ: Xá ăn theo lửa, Thái ăn theo nước, H'Mông ăn theo sương mù. Trong những năm gần đây, đời sống kinh tế - xã hội và văn hóa của vùng đồng bào các dân tộc Tây Bắc đã có những bước tiến đáng kể.
Mức sống của nhân dân được tăng lên. Sự đầu tư của Nhà nước vào các công trình kinh tế trọng điểm vùng Tây Bắc được chú trọng như xây dựng Nhà máy thủy điện Hòa Bình Luận văn cao học 8 Nguyễn Thị Huyền LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Phát triển du lịch văn hóa tiểu vùng du lịch miền núi Tây Bắc và tới đây là công trình thủy điện Mường La - Sơn La, phát triển các hệ thống đường giao thông nối liền các tỉnh và Hà Nội, phát triển các trung tâm đô thị như thị xã Hòa Bình, Sơn La, Lai Châu, thành phố Điện Biên, Lào Cai, Yên Bái. Các trung tâm huyện của các tỉnh Tây Bắc cũng được đầu tư xây dựng khang trang hơn trước. Hệ thống giao thông, bưu điện, trường học, bệnh viện được mở rộng.
Trình độ dân trí của đồng bào các dân tộc được nâng lên. Nhân dân đã quan tâm hơn đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế hướng tới thị trường và sản xuất hàng hóa, quan tâm tới đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất. Tiềm năng du lịch nhân văn phong phú, đa dạng cũng là nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh tế. Nhân dân các dân tộc Tây Bắc luôn có truyền thống đoàn kết trong dựng nước và giữ nước, trong sản xuất thì cần cù, chịu khó.
Với nguồn lao động tại chỗ tương đối dồi dào (khoảng 968.000 người), tuy số người được đào tạo nghề nghiệp còn quá ít (khoảng 1,7% dân số) nhưng là nguồn nhân lực quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội. Đồng bào các dân tộc vùng Tây Bắc trong thời gian qua đã góp phần quan trọng vào quá trình ổn định tình hình chính trị - xã hội, an ninh - quốc phòng và thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển đúng hướng. Tuy nhiên, vùng Tây Bắc hiện đang đứng trước những khó khăn to lớn trong quá trình phát triển cần phải giải quyết.