Chương I, Luật du lịch Việt Nam, 2005, quy định: “Du lịch văn hóa là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống” [20, tr. Như vậy, du lịch văn hóa là lĩnh vực du lịch khai thác tài nguyên du lịch văn hóa, các dịch vụ thích hợp nhằm tạo ra các sản phẩm du lịch phục vụ nhu cầu của du khách. Du lịch văn hóa lấy văn hóa làm tài nguyên du lịch. Loại hình du lịch này vừa có tính lực chọn khách lại vừa mang tính giáo dục nhận thức, đồng thời giúp bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa và là cầu nối cho việc giao lưu văn hóa giữa các vùng miền.
Loại hình du lịch này hiện nay đang rất phổ biến trên thế giới. Đặc điểm - Tính đa dạng: du lịch văn hóa với chất lượng cao được tạo nên bởi sự đa dạng trong đối tượng phục vụ, mục đích phục vụ hay điểm đến như các di sản văn hóa giới, các di tích lịch sử - văn hóa cho đến các lễ hội truyền thống, các phong tục tập quán lâu đời, các loại hình văn hóa nghệ thuật dân gian đậm đà bản sắc dân tộc. - Tính đa thành phần: không có một giới hạn nào cho những đối tượng liên quan đến du lịch văn hóa như du khách, các tổ chức Nhà nước và tư nhân, nhà đầu tư trong nước/nước ngoài, người làm du lịch (nhân viên, hướng dẫn viên du lịch…), cộng đồng địa phương… Tất cả các tập đối tượng đó gồm nhiều thành phần khác nhau trong xã hội, phong phú về cơ cấu độ tuổi/nghề nghiệp/giới tính/thành phần dân tộc…họ đều tham gia trực tiếp hay gián tiếp vào các hoạt động du lịch văn hóa. - Tính đa mục tiêu: Du lịch văn hóa mang lại lợi ích nhiều mặt như bảo tồn các tài nguyên thiên nhiên, môi trường, di tích lịch sử - văn hóa, duy trì và phát triển văn hóa phi vật thể, nâng cao chất lượng phục vụ du khách, nâng cao chất lượng đời sống của người phục vụ du lịch, mở rộng học hỏi và giao lưu văn hóa, kinh tế, nâng cao ý thức trách nhiệm cho cộng đồng.
- Tính liên vùng: Du lịch văn hóa nâng cao ý thức của du khách về văn hóa, thẩm mỹ… vì vậy nên có sự liên kết giữa các cơ sở du lịch, các vùng văn hóa với nhau trong việc hoạch định các tuyến, điểm du lịch văn hóa phục vụ cho du khách. - Tính mùa vụ: đặc trưng này được thể hiện trong du lịch văn hóa ở hiện tượng du khách thường tập trung rất đông ở những tuyến, điểm du lịch văn hóa vào những ngày nghỉ cuối tuần, nghỉ hè, nghỉ đông, nghỉ lễ và đặc biệt là dịp lễ hội. 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Tính tiềm năng: Du lịch văn hóa là loại hình du lịch tiềm năng bởi vì nó ít chịu sự chi phối của yếu tố thời vụ du lịch vì nó dựa vào các tài nguyên du lịch nhân văn và văn hóa của cộng đồng dân cư tại điểm đến, nhưng nó lại phụ thuộc vào đặc điểm nhân khẩu học như giới tính, độ tuổi, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, tôn giáo của du khách. Vai trò Văn hóa chính là nền tảng, là động lực thúc đẩy phát triển du lịch và du lịch văn hóa phải tạo ra môi trường văn hóa vừa tiên tiến vừa đậm đặc đà bản sắc văn hóa dân tộc, làm sống lại các giá trị văn hóa truyền thống, giữ vững sự ổn định chính trị và an ninh xã hội.
Du lịch văn hóa phát triển đã tích cóp và gạn lọc muôn ngàn tinh hoa từ muôn nẻo, không ngừng truyền tải, giao lưu, biến đổi và nâng cao để góp phần vào sự giàu có và cường thịnh về nền văn hóa, kinh tế xã hội của dân tộc, của đất nước. Vai trò và ý nghĩa của du lịch văn hóa đối với kinh doanh du lịch là hết sức quan trọng, góp phần thúc đẩy du lịch vươn lên, tạo đà cho du lịch ngày càng phát triển đem lại hiệu quả to lớn và ổn định cho nền kinh tế. Nhận biết được vấn đề đó, các nhà kinh doanh du lịch/các nhà quản lý kinh tế không những phải kiểm tra ngăn chặn những mặt phi văn hóa bằng hệ thống pháp luật mà vấn đề lâu dài và quan trọng hơn là tạo ra các sản phẩm du lịch văn hóa hấp dẫn từ bản sắc dân tộc, góp phần bảo tồn thuần phong mỹ tục, nâng cấp các di tích lịch sử văn hóa kiến trúc. Tài nguyên du lịch văn hóa Luật Du lịch Việt Nam 2005 chia tài nguyên du lịch thành 2 dạng chính là tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn.
Trong đó tài nguyên du lịch nhân văn là nhóm tài nguyên du lịch có nguồn gốc nhân tạo – do con người sáng tạo từ bàn tay và khối óc của mình trong quá trình tương tác với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội. Như vậy, tài nguyên du lịch nhân văn cũng được hiểu là những tài nguyên du lịch văn hóa. Tuy vậy, không phải sản phẩm văn hóa nào cũng đều là tài nguyên du lịch nhân văn. Chỉ những sản phẩm văn hóa có giá trị phục vụ du lịch mới được coi là tài nguyên du lịch nhân văn.
Điều này cũng được khẳng định trong Khoản 1, Điều 13, Chương II, Luật Du lịch Việt Nam (2005): “Tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hóa, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể khác có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch” [20, tr. 22 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tuy nhiên, cũng có quan điểm cho rằng “Du lịch văn hóa sử dụng văn hóa như là nguồn lực. Có 2 loại tài nguyên thuộc về văn hóa sử dụng trong loại hình du lịch này là tài nguyên du lịch nhân văn và tài nguyên du lịch xã hội. Tài nguyên du lịch nhân văn: là những của cải vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra, có khả năng thu hút con người tiến hành hoạt động du lịch văn hóa.
Tài nguyên du lịch xã hội: là những nét riêng về phong tục tập quán, quan niệm và phương thức sản cuất, sinh hoạt trong đời sống dân cư của mỗi dân tộc” [2, tr. Dù được nhìn nhận theo quan điểm nào thì bản chất của tài nguyên du lịch văn hóa chính là những giá trị văn hóa tiêu biểu cho mỗi dân tộc, mỗi quốc gia. Thông qua những hoạt động du lịch dựa trên việc khai thác các tài nguyên du lịch nhân văn, khách du lịch có thể hiểu được những đặc trưng cơ bản về văn hóa của dân tộc, địa phương nơi mình đến. Tuy nhiên không phải giá trị văn hóa nào cũng là tài nguyên du lịch văn hóa mà chỉ có các giá trị di sản văn hóa được khai thác đưa vào trong hoạt động du lịch và có tính hấp dẫn du khách thì mới trở thành tài nguyên du lịch nhân văn hóa.
Sản phẩm và điểm đến trong du lịch văn hóa 1. Sản phẩm du lịch văn hóa Du lịch là một ngành kinh tế vì vậy không thể không nhắc đến hệ thống sản phẩm/dịch vụ du lịch mà trong khuôn khổ của luận văn này là các sản phẩm du lịch văn hóa. Nếu sản phẩm du lịch là “tập hợp các dịch vụ cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của du khách trong chuyến đi du lịch” [20, tr.4] thì sản phẩm du lịch văn hóa chính là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch văn hóa trong chuyến đi của họ. Hay theo tác giả Nguyễn Phạm Hùng (2013) trình bày trong công trình khoa học Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa vùng đồng bằng sông Hồng thì “sản phẩm du lịch văn hóa là sự kết hợp giữa tài nguyên du lịch văn hóa và các dịch vụ du lịch văn hóa thích hợp phục vụ nhu cầu thưởng thức, khám phá, trải nghiệm của du khách về những điều khác biệt, mới lạ của các nền văn hóa khác nhau” [tr.
Như vậy, giống như các sản phẩm của các loại hình du lịch khác, sản phẩm du lịch văn hóa cũng chứa đựng yếu tố dịch vụ của ngành “công nghiệp không khói” nhưng lại mang đặc trưng riêng biệt gắn liền với văn hóa bản địa – nơi diễn ra hoạt động du lịch văn hóa. Điểm đến trong du lịch văn hóa 23 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo Điều 4, Chương I, Luật Du lịch Việt Nam (2005), thì “điểm du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn, phục vụ nhu cầu tham quan của khách du lịch” [20, tr. Tuy nhiên, trong du lịch văn hóa điểm đến thường bao gồm những di tích lịch sử, những thành phố lớn với các cơ sở văn hóa như bảo tàng, nhà hát hoặc những vùng nông thôn nơi trưng bày hiện vật truyền thống văn hóa của cộng đồng dân cư như các lễ hội, các nghi thức thể hiện lối sống, giá trị và văn hóa của họ. Bên cạnh đó, điểm đến của du lịch văn hóa còn là các thành phố hiện đại, công viên, câu lạc bộ, các hệ sinh thái ven biển, hải đảo và đất liền, các kỳ quan trên thế giới để khám phá nền văn hóa nơi đó.
Cơ sở vật chất kỹ thuật của du lịch văn hóa Hiểu theo nghĩa rộng, cơ sở vật chất kỹ thuật của du lịch được xem là toàn bộ cơ sở hạ tầng, phương tiện, vật chất và kỹ thuật tham gia vào hoạt động du lịch. Bao gồm cả cơ sở vật chất kỹ thuật của ngành du lịch như nhà hàng, khách sạn, hệ thống điện nước vệ sinh phục vụ tại điểm du lịch và cơ sở vật chất kỹ thuật của các ngành kinh tế khác có liên quan (mạng lưới giao thông, hệ thống thông tin liên lạc, hệ thống điện, nước của vùng…). Hiểu theo nghĩa hẹp thì cở sở vật chất kỹ thuật của du lịch là toàn bộ những cơ sở hạ tầng, vật chất, kỹ thuật được các nhà làm du lịch đầu tư xây dựng để phục vụ cho hoạt động du lịch như nhà hàng, khách sạn, đường giao thông nội bộ trong khu/điểm du lịch, công trình điện nước tại khu/điểm du lịch, các khu vui chơi giải trí, phương tiện giao thông và các công trình bổ trợ khác gắn liền với hoạt động du lịch.