Tổng quan nghiên cứu

Kể từ khi Nhà trưng bày An toàn khu Định Hóa chính thức mở cửa đón khách vào ngày 19 tháng 5 năm 1997 đến nay, vùng đất lịch sử này đã đón tiếp gần 10 triệu lượt khách tham quan, khẳng định vị thế là một trong những trung tâm du lịch về nguồn tiêu biểu của vùng chiến khu Việt Bắc. Huyện Định Hóa sở hữu nguồn tài nguyên văn hóa và lịch sử đồ sộ với 128 điểm di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh phân bố trên 24 xã, thị trấn, trong đó có 13 di tích được xếp hạng cấp quốc gia và 5 di tích cấp tỉnh. Đây cũng là nơi hội tụ bản sắc văn hóa độc đáo của cộng đồng 9 dân tộc anh em cùng sinh sống, với dân số toàn huyện tính đến tháng 12 năm 2012 là 89.125 người và mật độ dân số đạt 172 người trên một kilômét vuông.

Mặc dù có nguồn tài nguyên phong phú và không gian lịch sử cách mạng hào hùng, hoạt động du lịch văn hóa tại Định Hóa vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng vốn có. Thực trạng khai thác du lịch hiện nay bộc lộ nhiều hạn chế: sản phẩm du lịch còn đơn điệu, cơ sở hạ tầng thiếu đồng bộ, mức chi tiêu của du khách thấp và tỷ lệ khách lưu trú qua đêm rất khiêm tốn. Nhằm giải quyết các điểm nghẽn này, luận văn thạc sĩ tập trung phân tích toàn diện các yếu tố cấu thành tiềm năng, đánh giá chân thực bức tranh phát triển du lịch văn hóa giai đoạn 2009 - 2014, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp mang tính chiến lược và khả thi.

Phạm vi nghiên cứu bao quát toàn bộ địa bàn huyện Định Hóa gồm thị trấn Chợ Chu và 23 xã trực thuộc, trọng tâm đặt vào vùng lõi di tích lịch sử cách mạng như Phú Đình, Điềm Mặc, Đồng Thịnh và Phú Tiến. Ý nghĩa thực tiễn của công trình nghiên cứu là cung cấp cơ sở khoa học vững chắc giúp chính quyền địa phương và ngành du lịch Thái Nguyên hiện thực hóa mục tiêu đón 680.000 lượt khách vào năm 2015 và vươn tới mốc 800.000 lượt khách vào năm 2020, tạo động lực thúc đẩy kinh tế xã hội và bảo tồn di sản bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên các khung lý thuyết nền tảng của Hội đồng Quốc tế về Di tích và Di chỉ cùng Tổ chức Du lịch Thế giới về du lịch văn hóa. Du lịch văn hóa được xác định là loại hình du lịch lấy tài nguyên nhân văn làm đối tượng khai thác cốt lõi, thỏa mãn nhu cầu tìm hiểu lịch sử, nghệ thuật, lễ hội và phong tục tập quán của con người. Bên cạnh đó, luận văn áp dụng các nguyên tắc của Luật Du lịch Việt Nam năm 2005 và Luật Di sản văn hóa để phân tích mối quan hệ tương hỗ giữa việc khai thác kinh tế và bảo vệ các giá trị truyền thống bản địa.

Năm khái niệm công cụ xuyên suốt đề tài bao gồm: Văn hóa, Du lịch, Du lịch văn hóa, Tài nguyên du lịch nhân văn và Sản phẩm du lịch văn hóa. Luận văn vận dụng mô hình chuỗi giá trị điểm đến du lịch, kết hợp giữa tài nguyên văn hóa sẵn có với hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật, nhân lực và các dịch vụ bổ trợ để tạo nên sức hấp dẫn cạnh tranh cho vùng đất Định Hóa.

Phương pháp nghiên cứu

Để bảo đảm tính khách quan và khoa học, nghiên cứu sử dụng kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp được thu thập trong thời gian từ tháng 12 năm 2013 đến tháng 12 năm 2014. Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên, các báo cáo tổng kết của Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Thái Nguyên, văn bản pháp quy của Ủy ban nhân dân huyện Định Hóa và các công trình khoa học đã công bố.

Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập qua phương pháp điều tra xã hội học bằng bảng hỏi và phỏng vấn sâu. Cỡ mẫu khảo sát được tính toán theo công thức chọn mẫu ngẫu nhiên xác suất của Yamane, đạt tổng cộng 287 phiếu hợp lệ phân bổ cho 3 nhóm đối tượng: 247 khách du lịch (gồm 200 du khách nội địa và 47 du khách quốc tế), 30 người dân địa phương và 10 doanh nghiệp kinh doanh lữ hành.

Quá trình điều tra thực địa được triển khai qua 5 đợt điền dã trong năm 2014: đợt 1 từ ngày 8 đến ngày 15 tháng 2, đợt 2 từ ngày 30 tháng 4 đến ngày 4 tháng 5, đợt 3 từ ngày 17 đến ngày 19 tháng 5, đợt 4 từ ngày 16 đến ngày 19 tháng 8 và đợt 5 từ ngày 19 đến ngày 21 tháng 12. Phương pháp quan sát tham dự và không tham dự được thực hiện tại các điểm du lịch trọng điểm như bản Quyên ở xã Điềm Mặc, thôn Thẩm Rộc ở xã Bình Yên và thôn Ru Nghệ ở xã Đồng Thịnh. Các phương pháp thống kê mô tả, phân tích tổng hợp và biểu đồ hóa được lựa chọn nhằm định lượng hóa các chỉ số hành vi, đo lường mức độ hài lòng và xác định chính xác các yếu tố tác động đến sự phát triển của điểm đến.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, lượng khách du lịch đến Định Hóa có xu hướng tăng trưởng nhưng biến động mạnh và mang tính mùa vụ sâu sắc. Năm 2011, nhờ sự kiện Festival Trà Quốc tế lần thứ nhất, lượng khách đạt đỉnh với 580.000 lượt (trong đó riêng dịp lễ hội đón 21.000 lượt khách, chiếm 3,62% cả năm). Năm 2013, địa phương đón 564.989 lượt khách với 18.655 lượt khách tham dự Festival Trà lần thứ hai. Khách nội địa tập trung cao điểm vào mùa xuân từ tháng 2 đến tháng 4 (chiếm 67% tổng lượng khách cả năm), chủ yếu tham gia Lễ hội Lồng Tồng và hội Chùa Hang, trong khi khách quốc tế phân bố tương đối đều, tập trung vào dịp đầu năm (35,8%) và mùa thu từ tháng 8 đến tháng 10 (20,9%).

Thứ hai, cơ cấu mục đích chuyến đi thể hiện sự vượt trội của sản phẩm du lịch di tích lịch sử cách mạng. Có tới 32% du khách đến Định Hóa nhằm mục đích tham quan di tích lịch sử; 20,7% du khách tham gia các lễ hội dân gian; 17,3% là các đoàn cựu chiến binh về thăm lại chiến khu xưa. Nhu cầu tìm hiểu phong tục tập quán và nghệ thuật dân gian truyền thống thu hút 13,7% khách nội địa và chiếm tỷ lệ nổi bật 25,3% đối với khách quốc tế.

Thứ ba, thời gian lưu trú của khách du lịch ở mức rất thấp, ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn thu của toàn ngành. Khảo sát thực tế chỉ ra rằng 86% khách nội địa và 72,4% khách quốc tế chọn tour đi về trong ngày. Tỷ lệ khách lưu trú lại 1 đêm chỉ đạt 14% đối với khách nội địa và 27,6% đối với khách quốc tế. Khách du lịch quốc tế thường lựa chọn hình thức lưu trú homestay tại bản Quyên, trong khi khách nội địa có nhu cầu nghỉ đêm cao cấp thường quay về thành phố Thái Nguyên do Định Hóa thiếu cơ sở lưu trú đạt chuẩn.

Thứ tư, về thị trường và hành vi tiêu dùng, khách nội tỉnh chiếm 37%, khách từ các tỉnh vùng Đông Bắc và Tây Bắc chiếm 31%, khu vực Hà Nội và đồng bằng Bắc Bộ chiếm 20%, các khu vực khác chiếm 12%. Có 78,3% du khách di chuyển theo chương trình tour trọn gói của các công ty lữ hành và 21,7% lựa chọn hình thức du lịch tự túc.

Thảo luận kết quả

Các số liệu thống kê phản ánh rõ nét qua Biểu đồ 2.1 về diễn biến lượng khách, Biểu đồ 2.3 về cơ cấu mục đích chuyến đi và Biểu đồ 2.4 về nhu cầu lưu trú. Dữ liệu chứng minh Định Hóa đang đối mặt với nghịch lý: tiềm năng di sản văn hóa và lịch sử rất lớn nhưng hiệu quả khai thác kinh tế chưa tương xứng.

Khi so sánh với mô hình du lịch hoài niệm tại Thành cổ Quảng Trị (huyện Gio Linh) hay du lịch lịch sử kết hợp bản sắc dân tộc tại thành phố Điện Biên Phủ, Định Hóa chưa tạo dựng được thương hiệu sản phẩm đặc thù có sức lan tỏa rộng. Nguyên nhân chủ yếu do hạ tầng giao thông liên kết chưa thuận tiện (tuyến đường 264B từng bị xuống cấp), công tác quảng bá còn manh mún và các làng nghề truyền thống như 10 xưởng mộc ở Lam Vỹ hay làng dệt mành cọ Đồng Thịnh chưa được quy hoạch thành chuỗi trải nghiệm hoàn chỉnh. Việc biểu diễn các làn điệu dân ca như hát Then, hát Sli, múa Rối cạn chưa được tổ chức định kỳ để phục vụ du khách, dẫn đến sự lãng phí tài nguyên nhân văn quý giá.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, nâng cấp đồng bộ kết cấu hạ tầng giao thông và mạng lưới cơ sở lưu trú. Tập trung duy tu, trải nhựa 37 km tuyến đường liên tỉnh 254 và bê tông hóa 655 km đường liên thôn, liên xã. Khuyến khích đầu tư xây dựng các cơ sở lưu trú đạt tiêu chuẩn 2 đến 3 sao tại trung tâm thị trấn Chợ Chu, đồng thời mở rộng mô hình homestay chuẩn hóa tại bản Quyên (xã Điềm Mặc). Mục tiêu phấn đấu nâng tỷ lệ khách lưu trú qua đêm từ 14% lên mức 30% đến 35% trong giai đoạn 2016 - 2020 do Ủy ban nhân dân huyện Định Hóa chủ trì phối hợp với Sở Giao thông Vận tải triển khai.

Thứ hai, đa dạng hóa và nâng cao chất lượng chuỗi sản phẩm du lịch văn hóa đặc thù. Xây dựng các tour du lịch hoài niệm chuyên đề kết hợp tham quan cụm 128 di tích ATK với trải nghiệm văn hóa ẩm thực gạo Bao Thai, bánh trứng kiến và thưởng thức nghệ thuật hát Then, múa Tắc xình. Mục tiêu gia tăng thời gian lưu trú bình quân lên 1,5 đến 2 ngày và tăng mức chi tiêu của du khách thêm 25% trong giai đoạn 2015 - 2018 do Ban quản lý di tích ATK Định Hóa phối hợp với các doanh nghiệp lữ hành thực hiện.

Thứ ba, phát triển và chuẩn hóa nguồn nhân lực du lịch tại chỗ. Tổ chức các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ hướng dẫn viên, kỹ năng giao tiếp và ngoại ngữ cho 100% cán bộ thuộc Ban quản lý di tích cùng ít nhất 300 lao động thuộc các hộ gia đình làm du lịch cộng đồng trước năm 2018 do Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Thái Nguyên chủ trì đào tạo.

Thứ tư, đẩy mạnh xúc tiến quảng bá và liên kết tour tuyến vùng Việt Bắc. Thiết lập hệ thống cổng thông tin du lịch điện tử, liên kết chặt chẽ tuyến du lịch di sản lịch sử giữa ATK Định Hóa (Thái Nguyên) với ATK Tân Trào (Tuyên Quang) và ATK Chợ Đồn (Bắc Kạn). Phấn đấu đạt chỉ tiêu thu hút 800.000 lượt khách du lịch vào năm 2020 dưới sự chỉ đạo của Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên và Hiệp hội Du lịch địa phương.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là các cơ quan quản lý nhà nước và ban quản lý di tích, bao gồm Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Thái Nguyên, Ủy ban nhân dân huyện Định Hóa và Ban quản lý Khu di tích ATK Định Hóa. Luận văn cung cấp căn cứ thực tiễn để hoạch định chiến lược bảo tồn 128 điểm di tích gắn liền với quy hoạch phát triển kinh tế du lịch đến năm 2020.

Nhóm thứ hai là các doanh nghiệp lữ hành và nhà đầu tư dịch vụ du lịch. Dữ liệu từ 247 phiếu khảo sát du khách giúp các công ty thiết kế tour trọn gói 2 ngày 1 đêm tối ưu chi phí, kết hợp tham quan di tích lịch sử với trải nghiệm văn hóa bản địa của người Tày và các làng nghề mành cọ.

Nhóm thứ ba là các giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Du lịch, Văn hóa học và Địa lý kinh tế. Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp nghiên cứu điền dã kết hợp công thức xác định cỡ mẫu 287 đối tượng trong phân tích thị trường du lịch văn hóa.

Nhóm thứ tư là cộng đồng cư dân và các hợp tác xã tại huyện Định Hóa. Nghiên cứu giúp người dân bản địa tại các xã Phú Đình, Điềm Mặc nắm bắt phương thức xây dựng mô hình homestay, bảo tồn các giá trị di sản phi vật thể để nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống.

Câu hỏi thường gặp

Du lịch văn hóa huyện Định Hóa sở hữu những tiềm năng cốt lõi nào để bứt phá? Huyện Định Hóa sở hữu 128 di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh, trong đó có 13 di tích cấp quốc gia thuộc quần thể ATK Trung tâm. Bên cạnh đó, địa phương lưu giữ kho tàng di sản phi vật thể phong phú của 9 dân tộc anh em (với người Tày chiếm gần 50% dân số), tiêu biểu là Lễ hội Lồng Tồng, nghệ thuật hát Then, hát Sli và múa Rối cạn.

Thách thức lớn nhất đối với sự phát triển du lịch tại Định Hóa hiện nay là gì? Thách thức lớn nhất là tỷ lệ khách lưu trú qua đêm rất thấp, khi có tới 86% khách nội địa và 72,4% khách quốc tế chỉ đi về trong ngày. Nguyên nhân chủ yếu do hệ thống cơ sở hạ tầng, dịch vụ giải trí ban đêm còn thiếu hụt và sản phẩm du lịch chưa đủ đa dạng để giữ chân du khách dài ngày.

Các lễ hội truyền thống đóng góp vai trò như thế nào trong cơ cấu nguồn khách? Toàn huyện có gần 30 lễ hội dân gian thường niên, thu hút 20,7% khách nội địa và 18,4% khách quốc tế tham gia. Các lễ hội như hội Lồng Tồng (ngày 10 tháng Giêng) và hội Chùa Hang góp phần tạo nên mùa du lịch cao điểm quý I, thu hút 67% tổng lượng khách nội địa của cả năm.

Mô hình du lịch cộng đồng homestay tại Định Hóa đang mang lại hiệu quả ra sao? Mô hình homestay tại bản Quyên (xã Điềm Mặc) là điểm sáng thu hút 27,6% lượng khách quốc tế lưu trú qua đêm. Du khách được trực tiếp sinh hoạt trong những ngôi nhà sàn truyền thống, trải nghiệm dệt mành cọ và thưởng thức các món ăn đặc sản chế biến từ gạo Bao Thai cùng bánh trứng kiến.

Luận văn đưa ra mục tiêu cụ thể nào về lượng khách du lịch trong giai đoạn tới? Luận văn xác định mục tiêu hỗ trợ địa phương đón 680.000 lượt khách trong năm 2015 và đạt mốc 800.000 lượt khách vào năm 2020. Đồng thời, các giải pháp hướng tới việc gia tăng thời gian lưu trú trung bình từ 1 ngày lên 1,5 đến 2 ngày và nâng cao mức chi tiêu của mỗi du khách.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về du lịch văn hóa và làm rõ giá trị của 128 di tích lịch sử cùng bản sắc độc đáo của cộng đồng 9 dân tộc tại huyện Định Hóa.
  • Kết quả khảo sát 287 mẫu chỉ ra nút thắt lớn nhất của điểm đến là 86% du khách đi về trong ngày, đặt ra yêu cầu cấp bách phải tái cấu trúc chuỗi sản phẩm dịch vụ.
  • Đề tài đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm về nâng cấp 37 km đường liên tỉnh 254, chuẩn hóa mô hình homestay, đào tạo 300 nhân lực tại chỗ và xây dựng sản phẩm du lịch hoài niệm đặc thù.
  • Thiết lập cơ chế liên kết vùng di sản ATK Định Hóa - Tân Trào - Chợ Đồn là hướng đi chiến lược nhằm đạt mục tiêu 800.000 lượt khách vào năm 2020.
  • Công trình là tài liệu khoa học thiết thực phục vụ công tác quản lý, giảng dạy và kinh doanh lữ hành, thúc đẩy du lịch Định Hóa phát triển nhanh và bền vững.

Các cơ quan ban ngành, doanh nghiệp lữ hành và cộng đồng địa phương cần nhanh chóng phối hợp đồng bộ để triển khai các giải pháp quy hoạch, đưa tiềm năng văn hóa lịch sử của Thủ đô gió ngàn trở thành động lực phát triển kinh tế vững mạnh.