Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về phát triển du lịch theo hướng liên kết và hội nhập quốc tế. Chương 2: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về phát triển du lịch theo hướng liên kết và hội nhập quốc tế. Chương 3: Thực trạng phát triển du lịch Phú Thọ theo hướng liên kết và hội nhập quốc tế. Chương 4: Giải pháp thúc đẩy sự phát triển du lịch Phú Thọ theo hướng liên kết và hội nhập quốc tế đến năm 2025.
Mỗi chương có tiểu kết và toàn bộ luận án có kết luận chung 7 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH THEO HƢỚNG LIÊN KẾT VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ 1. Tổng quan về phát triển du lịch 1. Các khái niệm và phân loại về loại hình du lịch Luật du lịch năm 2017 đã giải thích các từ ngữ liên quan đến du lịch ở Việt Nam một cách căn bản, bao gồm: - Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dư ng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác. - Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc để nhận thu nhập ở nơi đến.
- Hoạt động du lịch là hoạt động của khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch và cơ quan, tổ chức, cá nhân, cộng đồng dân cư có liên quan đến du lịch. - Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên và các giá trị văn hóa làm cơ sở để hình thành sản phẩm du lịch, khu du lịch, điểm du lịch, nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch. Tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch văn hóa. - Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ trên cơ sở khai thác giá trị tài nguyên du lịch để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch.
- Khu du lịch là khu vực có ưu thế về tài nguyên du lịch, được quy hoạch, đầu tư phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch. Khu du lịch bao gồm khu du lịch cấp tỉnh và khu du lịch quốc gia. - Điểm du lịch là nơi có tài nguyên du lịch được đầu tư, khai thác phục vụ khách du lịch. - Chương trình du lịch là văn bản thể hiện lịch trình, dịch vụ và giá bán được định trước cho chuyến đi của khách du lịch từ điểm xuất phát đến điểm kết thúc chuyến đi.
8 - Kinh doanh dịch vụ lữ hành là việc xây dựng, bán và tổ chức thực hiện một phần hoặc toàn bộ chương trình du lịch cho khách du lịch. - Hướng dẫn du lịch là hoạt động cung cấp thông tin, kết nối dịch vụ, dẫn khách du lịch, hỗ trợ khách du lịch sử dụng các dịch vụ theo chương trình du lịch. - Hướng dẫn viên du lịch là người được cấp thẻ để hành nghề hướng dẫn du lịch. - Cơ sở lưu trú du lịch là nơi cung cấp dịch vụ phục vụ nhu cầu lưu trú của khách du lịch.
- Xúc tiến du lịch là hoạt động nghiên cứu thị trường, tổ chức tuyên truyền, quảng bá, vận động nhằm tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội phát triển và thu hút khách du lịch. - Phát triển du lịch bền vững là sự phát triển du lịch đáp ứng đồng thời các yêu cầu về kinh tế - xã hội và môi trường, bảo đảm hài hòa lợi ích của các chủ thể tham gia hoạt động du lịch, không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịch trong tương lai. Bên cạnh đó, Luật du lịch năm 2017 đã chỉ rõ các loại hình du lịch phát triển ở Việt Nam gồm: a) Du lịch tham quan: Du lịch tham quan là hành vi/nhu cầu của con nguoi nhằm nâng cao hiểu biết về thế gioi chung quanh. Đối tượng mà du khách tham quan có thể là một dạng tài nguyên du lịch tự nhiên, tài nguyên du lịch nhân văn, hoặc một cơ sởnghien cứu khoa học, co so sản xuất.
b)Du lịch nghỉ dƣỡng: Du lịch nghỉ du ng với mục đích là nghỉ ngoi phục hồi suc khỏe của khách du lịch, ngoài ra du lịch nghỉ du ng còn đuợc hiểu là nhu cầu gần với thiên nhiên và thay đổi môi trường sống hàng ngày. Ngày nay nhu cầu du lịch nghỉ duong càng lớn do sức ép của công việc căng thẳng, do môi trường ô nhiễm, do các quan hệ xã hội,. c) Du lịch khám phá: Tùy theo mức độ và tính chất chuyến du lịch mà có thể chia ra thành du lịch tìm hiểu và du lịch mạo hiểm. Du lịch tìm hiểu về thiên nhiên, môi trường, về lịch sử, phong tục tập quán,.
Ở một mức độ cao hon, du lịch mạo hiểm dựa trên nhu ng nhu cầu thể hiện mình, tự r n luyện, tự khám phá 9 khả năng của bản thân,. Du lịch mạo hiểm để lại những cảm giác thích thú, đặc biệt trong gio i trẻ. Nhu ng vách núi cheo leo, nhu ng ghềnh thác, hang động, cánh rừng với môi trường hoang dã là những nơi lý thú cho những bạn trẻ thích du lịch mạo hiểm. d) Du lịch sinh thái: Là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hoá địa phương, có sự tham gia của cộng đồng dân cư, kết hợp giáo dục về bảo vệ môi trường (Luật du lịch, 2017).
Du lịch sinh thái thu ờng đóng góp vào bảo tồn thiên nhiên và phúc lợi cho cộng đồng địa phuong. Du lịch sinh thái gắn liền với phát triển bền vững của du lịch, trong vi c sử dụng tài nguyen một cách bền vững bao gồm tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên nhân văn, kiểm soát và đóng góp tích cực cho phát triển kinh tế. e) Du lịch văn hóa: Là loại hình du lịch được phát triển trên cơ sở khai thác giá trị văn hóa, góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống, tôn vinh giá trị văn hóa mới của nhân loại. g) Du lịch chua bệnh: Đáp ứng nhu cầu điều tri bệnh và phục hồi sức khỏe của khách du lịch.
Ngày nay, nhiều nước đã kết hợp có hiệu quả việc khai thác su dụng nước khoáng, tắm biển, tắm bùn.chữa bệnh bằng phuong pháp y học cổ truyền cũng nhu kết hợp việc giải phẫu chỉnh hình, thẩm mỹ. h) Du lịch lễ hội - các su kiện đặc biệt: Ngày nay, lễ hội là một yếu tố rất thu hút khách du lịch. Tham gia vào lễ hội, khách du lịch có dịp hòa mình vào không khí tưng bừng của hoạt động này. i) Du lịch công vụ: Là loại hình kết hợp các chuyến đi làm vi c với du lịch nghỉ ngoi.
k) Du lịch thể thao: Sở thích và nhu cầu khách du lịch thường gắn liền với một số môn thể thao, ngoài ra choi thể thao voi mục đích nâng cao thể chất, phục hồi sức khỏe, tu thể hiện mình hoặc đon giản chỉ để giải trí. Các hoạt động thể thao nhu san bắn, câu cá, choi golf, đánh, bóng chuyền bãi biển, boi lặn, trượt tuyết,. n) Du lịch có tính chất xã hội: Loại hình du lịch này nhằm đáp ứng được nhu cầu giao tiếp xã hội của du khách nhu: viếng thăm người thân, bạn b , hồi huong, 10 du đám cuoi,. Với loại hình này phát triển ở các quốc gia có nhiều kiều bào ở nước ngoài nhu: Trung Quốc, Ấn Độ, Anh, Pháp, Tay Ban Nha, Việt Nam.
m) Du lịch tôn giáo: Mục đích của loại hình du lịch này nhằm thỏa mãn những nhu cầu tín ngư ng và thực hiện các nghi thức tôn giáo của các tín đồ hay tham quan tìm hiểu tôn giáo của những người không cùng tôn giáo. Điểm đến của các chương trình này là những thánh địa, nhà thờ, chùa chiền, đình miếu,. o) Du lịch quá cảnh: Đo i tượng du khách này thu ờng chỉ dừng chan trong một thời gian ngắn (sân bay, trạm dừng chân,.), không quá 24 giờ đe đi đe n một no i khác. p) Du lịch MICE: (Meeting Incentive Conference Event): Là loại hình du lịch kết hợp của du khách giữa mục đích đi dự hội nghị, hội thảo, triển lãm, tham gia các sự kiện chính là vi c sử dụng các dịch vụ du lịch và tham quan du lịch.
Đối tuợng các du lịch MICE là các doanh nhan, chính khách, nguời có vị trí trong các tạp đoàn, công ty, tổ chức. Các công trình nghiên cứu về phát triển du lịch trong mối quan hệ với tăng trưởng kinh tế Nghiên cứu của Eugenio-Martin, Morales và Scarpa (2004) sử dụng dữ liệu của 21 quốc gia Mỹ Latinh trong giai đoạn từ năm 1985 - 1998 khi xem xét mối quan hệ giữa du lịch và tăng trưởng kinh tế. Bằng việc sử dụng công cụ ước lượng dữ liệu bảng và GMM, kết quả cho thấy du lịch có tác động tích cực đáng kể đến hiệu suất tăng trưởng kinh tế của các nước Mỹ Latinh. Tuy nhiên, việc phân chia mẫu này thành các nhóm thu nhập cao, trung bình và thấp cho thấy tầm quan trọng của du lịch đối với sự tăng trưởng của các nước thu nhập thấp và trung bình.
Áp dụng mô hình dữ liệu bảng điều khiển AR Least Squares AR để giải thích khách du lịch nước ngoài xác nhận mối quan hệ tích cực giữa du lịch và tăng trưởng kinh tế. Mặc dù đối với các nước thu nhập thấp, số lượng khách du lịch tăng phụ thuộc vào cơ sở hạ tầng, trình độ học vấn và an toàn ở một quốc gia. Katircioglu (2009), Tourism, trade and growth: the case of Cyprus, Applied Economics, nghiên cứu này sử dụng mô hình Granger để kiểm định mối quan hệ nhân quả trong dài hạn giữa du lịch, thương mại và tăng trưởng kinh tế. Kết quả 11 kiểm định cho thấy du lịch, thương mại và tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ nhân quả với nhau.
Kết quả thử nghiệm quan hệ nhân quả Granger cho thấy tăng trưởng kinh tế thực tế kích thích tăng trưởng trong thương mại quốc tế (cả xuất khẩu và nhập khẩu) và khách du lịch quốc tế đến đảo Síp. Hơn nữa, tăng trưởng trong thương mại quốc tế (cả xuất khẩu và nhập khẩu) cũng kích thích sự gia tăng lượng khách du lịch quốc tế đến đảo Síp. Mello-Sampayo và De Sousa-Vale (2010), Tourism and Growth in European Countries: An Application of Likelihood-Based Panel Cointegratio, khi kiểm tra mối quan hệ giữa GDP, thu nhập du lịch trên mỗi khách du lịch và tổng khối lượng thương mại cho một nhóm các nước Châu Âu giai đoạn 1988 - 2010.