Chương 1: Cơ sở lý luận về du lịch sinh thái tại các Vườn quốc gia Chương 2: Phân tích thực trạng phát triển du lịch sinh thái tại Vườn quốc gia Phong N ha – Kẻ Bàng Chương 3: Một số giải pháp về du lịch sinh thái tại Vườn quốc gia Phong N ha – Kẻ Bàng 3 PHẦ II - ỘI DU G VÀ KẾT QUẢ GHIÊ CỨU CHƯƠ G 1: CƠ SỞ LÝ LUẬ VỀ DU LNCH SI H THÁI TẠI CÁC VƯỜ QUỐC GIA 1.1 Tổng quan về du lịch sinh thái tại Vườn quốc gia 1.1 Khái niệm về vườn quốc gia Về khái niệm rừng đặc dụng thì khoản 2 Điều 5 Luật Lâm nghiệp 2017 quy định cụ thể rằng: rừng đặc dụng được sử dụng chủ yếu để bảo tồn hệ sinh thái rừng tự nhiên, nguồn gen sinh vật rừng, nghiên cứu khoa học, bảo tồn di tích lịch sử - văn hóa, tín ngưỡng, danh lam thắng cảnh kết hợp du lịch sinh thái; nghỉ dưỡng, giải trí trừ phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của rừng đặc dụng; cung ứng dịch vụ môi trường rừng bao gồm: a) Vườn quốc gia; b) Khu dự trữ thiên nhiên; c) Khu bảo tồn loài - sinh cảnh; d) Khu bảo vệ cảnh quan bao gồm rừng bảo tồn di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh; rừng tín ngưỡng; rừng bảo vệ môi trường đô thị, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế, khu công nghệ cao; đ) Khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học; vườn thực vật quốc gia; rừng giống quốc gia. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 6 N ghị định 156/2018/N Đ-CP hướng dẫn Luật Lâm nghiệp (Có hiệu lực thi hành từ 01/01/2019) thì tiêu chí xác định Vườn quốc gia được quy định cụ thể như sau: - Có ít nhất 01 hệ sinh thái tự nhiên đặc trưng của một vùng hoặc của quốc gia, quốc tế hoặc có ít nhất 01 loài sinh vật đặc hữu của Việt N am hoặc có trên 05 loài thuộc Danh mục loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm; - Có giá trị đặc biệt về khoa học, giáo dục; có cảnh quan môi trường, nét đẹp độc đáo của tự nhiên, có giá trị du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí; - Có diện tích liền vùng tối thiểu 7.000 ha, trong đó ít nhất 70% diện tích là các hệ sinh thái rừng. 4 Đối với quy định về sử dụng rừng đặc dụng thì tại Điều 52 Luật Lâm nghiệp 2017 quy định đối với vườn quốc gia, khu dự trữ thiên nhiên, khu bảo tồn loài - sinh cảnh cụ thể như sau: - Không khai thác lâm sản trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của rừng đặc dụng; không khai thác tận thu cây gỗ đã chết, cây gãy đổ trong phân khu phục hồi sinh thái của rừng đặc dụng; - Được khai thác tận thu cây gỗ đã chết, cây gãy đổ, nấm trong phân khu dịch vụ; hành chính của rừng đặc dụng; - Được khai thác tận dụng gỗ, củi, thực vật rừng ngoài gỗ, nấm trong phạm vi giải phóng mặt bằng để xây dựng công trình được cơ quan nhà nước có thNm quyền phê duyệt; - Được thu thập mẫu vật các loài thực vật rừng, động vật rừng, nấm, nguồn gen sinh vật theo nhiệm vụ khoa học và công nghệ sau khi được cơ quan nhà nước có thNm quyền phê duyệt.2 Đặc điểm, vai trò của Vườn quốc gia Vườn quốc gia phải có những đặc điểm nhất định như có giá trị tự nhiên cao, có tính đặc biệt và tính kỳ dị nhất định của hệ động thực vật. N ó cần nhận được sự quan tâm ưu tiên và chăm sóc đặc biệt của chính phủ.
Được công bố là vườn quốc gia, khu bảo tồn quốc gia, phải chứa một hệ thống tự nhiên đại diện. Một khu vực rộng lớn cho phép sự tiến hóa tự nhiên của các quá trình sinh thái và ít có sự can thiệp của con người vào giá trị tự nhiên của nó. Hệ thống sinh thái trong khu Vườn quốc gia (VQG) phải được giữ nguyên trạng, không có sự can thiệp của con người vào môi trường vật lí và các hệ động vật, thực vật. Các mối quan hệ qua lại giữa hệ sinh vật và môi trường, giữa các hệ sinh vật và bên trong mỗi hệ sinh vật vận hành theo quy luật cân bằng tự nhiên.
Các chức năng sản xuất, điều hoà và bảo vệ trong hệ thống triển khai một cách bình thường. VQG là đối tượng quản lí theo một quy chế nghiêm ngặt do nhà nước ban hành. VQG được phân thành 3 phân khu: phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, phân khu phục hồi sinh thái, phân khu hành chính - dịch vụ. Các khu dịch vụ dành cho hoạt động tham quan, giải trí và trụ sở cơ quan quản lí; có thể thiết kế đường sá, vườn 5 cây, hồ nước và công trình phục vụ khách tham quan.
Để bảo đảm an toàn việc bảo tồn các hệ động vật, hệ thực vật, hệ sinh thái có vùng đệm. Vùng đệm là vùng đất đai được phép khai thác hạn chế vì mục đích dân sinh nằm liền kề với VQG hay khu bảo tồn thiên nhiên, là hành lang an toàn bảo vệ, kiểm soát, ngăn chặn sự xâm nhập từ bên ngoài vào VQG. VQG thường được xây dựng tại các danh lam thắng cảnh, nơi có nhiều tài nguyên quý giá, nhất là tài nguyên sinh vật, dùng làm nơi nghiên cứu tự nhiên nguyên sinh hoặc làm nơi du lịch, nghỉ ngơi.2 Các hoạt động của du lịch sinh thái 1. Khái niệm về du lịch Tổ chức Du lịch Thế giới (UN WTO), một tổ chức thuộc Liên Hiệp Quốc, đưa ra định nghĩa: “Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du hành, tạm trú, trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư; nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là làm tiền.
Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư [1]”. Hội nghị quốc tế về du lịch và lữ hành được tổ chức ở Ottawa, Canada vào tháng 6/1991 đã thống nhất đưa ra định nghĩa về du lịch như sau: “Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du hành, tạm trú, với mục đích tham quan, khám phá hoặc với mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cũng như mục đích kinh doanh và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư.” N gành Du lịch Việt N am có lịch sử hình thành và phát triển hơn 60 năm (ngành du lịch Việt N am được thành lập vào ngày 9/7/1960), nhưng chỉ thực sự phát triển nhanh vào những năm đầu của thập kỷ 90 của thế kỷ trước. N ếu so sánh với các ngành kinh tế khác, Du lịch được xếp vào một trong những ngành mới. Do đó, hệ thống các thuật ngữ, khái niệm cơ bản của ngành Du lịch chỉ mới được chuNn hoá trong thời gian gần đây.
Trước khi Luật Du lịch được Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt N am thông qua năm 2005, ở nước ta khái niệm “du lịch” cũng được hiểu theo nhiều 6 cách khác nhau, tuỳ thuộc cách tiếp cận mỗi tác giả. Khi Luật Du lịch ra đời (2005) [2], khái niệm du lịch ở nước ta được sử dụng tương đối thống nhất theo cách giải thích thuật ngữ của Luật Du lịch như sau: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”.Theo Luật du lịch năm 2017 [3] của Việt N am định nghĩa “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác”. So với năm 2005, Luật du lịch năm 2017 đã định rõ giới hạn về thời gian của chuyến du lịch ngoài nơi cư trú thường xuyên là 1 năm và du lịch được hiểu theo nghĩa rộng hơn bao hàm các hoạt động nghỉ dưỡng, tham quan, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch kết hợp với các hoạt động hợp pháp khác. Định nghĩa du lịch ngày càng được làm rõ, có tính khái quát và thống nhất.
Du lịch bao hàm các khía cạnh: là hoạt động di chuyển khỏi nơi cư trú thường xuyên trong khoảng thời gian nhất định; du lịch là hành trình di chuyển tới điểm đến có sử dụng các dịch vụ nghỉ dưỡng, giải trí, ăn uống, khám phá.và tham gia các hoạt động khác nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng; cuối cùng du lịch còn bao gồm là một chuyến đi riêng hoặc kết hợp với các mục địch khác. Khái niệm về du lịch sinh thái Có nhiều định nghĩa khác nhau về Du lịch sinh thái được các chuyên gia, các tổ chức và các quốc gia đề xuất theo các quan điểm, mục đích khác nhau được thể hiện trong các nghiên cứu, báo cáo, các quy định của các quốc gia nhằm đạt được các mục tiêu, chiến lược, định hướng nghiên cứu. Có những quan điểm, đề xuất định nghĩa về du lịch sinh thái như sau: “DLST là du lịch vào những khu tự nhiên hầu như không bị ô nhiễm hoặc ít bị xáo trộn với mục tiêu đặc biệt: nghiên cứu, thưởng ngoạn, trân trọng khung cảnh và muông thú hoang dã và các biểu thị văn hóa được khám phá trong các khu vực này”. (Cebllos – Lascurain, H, 1987) “DLST là du lịch tại các vùng còn chưa bị con 7 người làm biến đổi.
N ó phải đóng góp vào BTTN và phúc lợi của dân địa phương”. Hens, 1998) Hiệp hội DLST Hoa kỳ, 1998 định nghĩa “DLST là du lịch có mục đích với các khu tự nhiên, hiểu biết về lịch sử văn hóa và lịch sử tự nhiên của môi trường, không làm biến đổi tình trạng của hệ sinh thái, đồng thời ta có cơ hội để phát triển kinh tế, bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên và lợi ích tài chính cho cộng đồng địa phương”.