Mở đầu. Chƣơng 1: Tổng quan tài liệu. Chƣơng 2: Đối tƣợng, phạm vi, cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng 3: Tiềm năng và hiên trạng phát triển DLST ở VQG Vũ Quang.
Chƣơng 4: Đề xuất định hƣớng phát triển DLST ở Vƣờn Quốc gia Vũ Quang. Kết luận - Kiến nghị. 5 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.Khái niệm DLST Ngày nay sự hiểu biết về du lịch sinh thái đã phần nào đƣợc cải thiện, thực sự đã có một thời gian dài du lịch sinh thái là chủ đề nóng của các hội thảo về chiến lƣợc và chính sách bảo tồn và phát triển các vùng sinh thái quan trọng của các quốc gia và thế giới. Trong những năm qua đã có nhiều nhà khoa học danh tiếng tiên phong nghiên cứu lĩnh vực này, điển hình nhƣ: Hector Ceballos-Lascurain- một nhà nghiên cứu tiên phong về du lịch sinh thái, định nghĩa DLST lần đầu tiên đƣợc ông đƣa ra vào năm 1987 nhƣ sau: "Du lịch sinh thái là du lịch đến những khu vực tự nhiên ít bị ô nhiễm hoặc ít bị xáo trộn với những mục tiêu đặc biệt: nghiên cứu, trân trọng và thƣởng ngoạn phong cảnh và giới động-thực vật hoang dã, cũng nhƣ những biểu thị văn hoá (cả quá khứ và hiện tại) đƣợc khám phá trong những khu vực này" trích trong bài giảng Du lịch sinh thái của Nguyễn Thị Sơn [23].
Năm 1994, nƣớc Úc đã đƣa ra khái niệm “DLST là Du lịch dựa vào thiên nhiên, có liên quan đến sự giáo dục và diễn giải về môi trƣờng thiên nhiên đƣợc quản lý bền vững về mặt sinh thái” [16]. Theo Hiệp hội DLST Hoa Kỳ (năm 1998) “DLST là du lịch có mục đích với các khu tự nhiên, hiểu biết về lịch sử văn hóa và lịch sử tự nhiên của môi trƣờng, không làm biến đổi tình trạng của hệ sinh thái, đồng thời ta có cơ hội để phát triển kinh tế, bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên và lợi ích tài chính cho cộng đồng địa phƣơng” [23]. Honey (1999) thì cho rằng “DLST là du lịch hƣớng tới những khu vực nhạy cảm và nguyên sinh thƣờng đƣợc bảo vệ với mục đích nhằm gây ra ít tác hại và với quy mô nhỏ nhất. Nó giúp giáo dục du khách, tạo quỹ để bảo vệ môi trƣờng, nó trực tiếp đem lại nguồn lợi kinh tế và sự tự quản lý cho ngƣời dân địa phƣơng và nó khuyến khích tôn trọng các giá trị về văn hóa và quyền con ngƣời” [5].
6 Ở Việt Nam vào năm 1999, trong khuôn khổ hội thảo xây dựng chiến lƣợc quốc gia về phát triển du lịch sinh thái đã đƣa ra định nghĩa nhƣ sau: “Du lịch sinh thái là hình thức du lịch thiên nhiên có mức độ giáo dục cao về sinh thái và môi trƣờng có tác động tích cực đến việc bảo vệ môi trƣờng và văn hóa, đảm bảo mang lại các lợi ích về tài chính cho cộng đồng địa phƣơng và có đóng góp cho các nỗ lực bảo tồn” [5]. Năm 2000, Lê Huy Bá cũng đƣa ra khái niệm “DLST là một loại hình du lịch lấy các hệ sinh thái đặc thù, tự nhiên làm đối tƣợng để phục vụ cho những khách du lịch yêu thiên nhiên, du ngoạn, thƣởng thức những cảnh quan hay nghiên cứu về các hệ sinh thái. Đó cũng là hình thức kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế du lịch với giới thiệu về những cảnh đẹp của quốc gia cũng nhƣ giáo dục tuyên truyền và bảo vệ, phát triền môi trƣờng và tài nguyên thiên nhiên một cách bền vững” [11]. Trong luật du lịch năm 2005, có một định nghĩa khá ngắn gọn “Du lịch sinh thái là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hoá địa phƣơng với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững” [14].
Theo quy chế quản lý các hoạt động du lịch sinh thái tại các vƣờn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, do bộ Nông nghiệp và PTNT ban hành năm 2007, thì Du lịch Sinh thái đƣợc hiểu là “Là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hoá địa phƣơng với sự tham gia của cộng đồng dân cƣ ở địa phƣơng nhằm phát triển bền vững” [18]. Theo Hiệp hội Du lịch Sinh Thái (The Internatonal Ecotourism society) thì “DLST là du lịch có trách nhiệm với các khu thiên nhiên là nơi bảo tồn môi trƣờng và cải thiện phúc lợi cho nhân dân địa phƣơng” [5]. Qua tìm hiểu các khái niệm trên ta có thể thấy rằng các khu bảo tồn và vƣờn quốc gia là nơi phù hợp nhất, bởi đây chính là nơi có nhiều yếu tố hấp dẫn khách du lịch sinh thái. Những yếu tố này có thể là một hoặc nhiều loài động thực vật quý hiếm và đặc hữu, cuộc sống hoang dã, phong tục tập quán, tính đa dạng sinh học cao, địa 7 hình hùng vĩ, các khu di tích lịch sử hoặc văn hóa, mang tính đặc thù trong điều kiện tự nhiên.
Những yếu tố này sẽ làm lợi cho các đơn vị tổ chức du lịch sinh thái và cộng đồng địa phƣơng do vậy các yếu tố này sẽ đƣợc bảo vệ tốt, chính đây là mối quan hệ giữa du lịch và các khu bảo tồn và vƣờn quốc gia [24]. Ở Việt Nam nói chung và ở vƣờn quốc gia nói riêng, yếu tố gây hấp dẫn cho khách du lich đó là những thông tin về ĐDSH, những phát hiện mới về các loài động thực vật và những cảnh đẹp thiên nhiên. Tuy nhiên cũng phải khẳng định rằng các khách đến với các khu bảo tồn và vƣờn quốc gia không hẳn là khách du lịch sinh thái, mà họ chỉ có những sở thích về muốn khám phá cảnh đẹp, do vậy họ chỉ lựu lại những khu vực này với thời gian rất ngắn, họ không muốn có những trải nghiệm thực sự với thiên nhiên. Tuy vậy, đây cũng là những đối tƣợng du lịch góp phần tăng nguồn thu hiệu quả vào cho việc bảo tồn và cải thiện sinh kế cho ngƣời dân ở đây, nhƣ một giải pháp trƣớc mắt.
Các hoạt động du lịch sinh thái ở đây phải đƣợc xây dựng bám sát định nghĩa về du lịch sinh thái. Nhằm đảm bảo rằng phát triển du lịch sinh thái không làm tổn hại đến vƣờn quốc gia và tăng nguồn thu nhập một cách bền vững cho cộng đồng địa phƣơng bằng các hoạt động du lịch sinh thái [21]. Hiện nay, DLST đang đóng một vai trò quan trọng trong nhiều dự án bảo tồn thiên nhiên và phát triển cảnh quan, các mục tiêu của DLST có liên quan đến các khu BTTN và VQG là [5]: - Sự tƣơng thích về mặt sinh thái và văn hóa của phát triển du lịch là một điều kiện quan trọng; - Phát triển du lịch phải hỗ trợ tài chính cho công tác bảo tồn ở các khu BTTN và VQG; - Tạo thu nhập cho ngƣời dân địa phƣơng; 8 - Góp phần quan trọng nhằm thuyết phục mọi ngƣời chấp nhận bảo tồn thiên nhiên là một kết quả gián tiếp của các tác động kinh tế. Phát triển du lịch sinh thái là một trong những cách tốt nhất nhằm giúp cả cộng đồng địa phƣơng và các khu BTTN & VQG.
Đó cũng là một hợp phần lý tƣởng của chiến lƣợc phát triển bền vững trong đó tài nguyên thiên nhiên đƣợc sử dụng nhƣ một yếu tố thu hút khách du lịch mà không gây tác hại tới thiên nhiên của khu vực; là một công cụ quan trọng trong quản lý các khu BTTN & VQG. Tuy vậy phát triển DLST phải đảm bảo đƣợc phát triển phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của các Khu BTTN và VQG. DLST đƣợc biểu diễn bằng sơ đồ sau: DU LỊCH DU LỊCH HỖ TRỢ BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN TỰ NHIÊN BỀN VỮNG DU LỊCH DLST DU LỊCH ĐƢỢC DU LỊCH CÓ QUẢN LÝ BỀN VỮNG GIÁO DỤC MÔI TRƢỜNG Hình 1.1: Sơ đồ cấu trúc du lịch sinh thái [23]. Nhƣ vậy, DLST là loại hình du lịch dựa vào tài nguyên thiên nhiên và văn hóa của cộng đồng địa phƣơng, đƣợc thiết kế mang tính giáo dục môi trƣờng cao.
DLST nhằm mang lại nguồn lợi kinh tế cho cộng đồng địa phƣơng và công tác bảo tồn, trong đó phát huy sự tham gia của cộng đồng địa phƣơng. Nguyên tắc cơ bản phát triển DLST Những nguyên tắc đảm bảo trong du lịch sinh thái không chỉ cho các nhà quy hoạch, quản lý tổ chức, điều hành du lịch mà cho cả các hƣớng dẫn viên, cộng đồng dân địa phƣơng [5,21,23]. Các nguyên tắc này bao gồm: - Phục vụ nhu cầu nghỉ ngơi, tham quan giải trí, khám phá tìm hiểu tự nhiên và con ngƣời. Đây chính là nguyên tắc cơ bản trong hoạt động DLST.
- Hỗ trợ công tác bảo tồn tài nguyên du lịch sinh thái nói riêng và tài nguyên ở các vƣờn quốc gia, khu bảo tồn nói chung. Cụ thể là DLST phải đƣợc tổ chức có tính khoa học, có tính giáo dục môi trƣờng cao, đồng thời đem lại lợi nhuận tái phục vụ cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học. - Hỗ trợ kinh tế địa phƣơng, tạo thêm những lợi ích kinh tế lâu dài cho cộng đồng dân địa phƣơng, những ngƣời có quyền làm chủ cho sự phát triển và trong công tác hoạch định du lịch. Xuất phát từ những khái niệm về DLST ở trên chúng ta có thể thấy để phát triển DLST cần phải đảm bảo những nguyên tắc cơ bản trên.
Nếu các hoạt động du lịch mà không đáp ứng đƣợc các tiêu chí trên thì không thể đƣợc xem là DLST. Đặc trƣng cơ bản của du lịch sinh thái Các hoạt động DLST khác với các loại hình du lịch khác ở các đặc trƣng chủ yếu sau [21, 23]: - Dựa trên địa bàn hấp dẫn về tự nhiên: Đối tƣợng của DLST là những khu vực hấp dẫn với các đặc điểm phong phú về tự nhiên, đa dạng về sinh học và kể cả những nét văn hoá bản địa đặc sắc. Đặc biệt, những khu tự nhiên còn tƣơng đối nguyên sơ, ít bị tác động lớn bởi các hoạt động của con ngƣời. Chính vì vậy, hoạt động DLST thƣờng diễn ra và thích hợp tại lãnh thổ các vƣờn quốc gia và các khu bảo tồn thiên nhiên.
10 - Hỗ trợ bảo tồn, đảm bảo bền vững về sinh thái: Thách thức đối với DLST trong bất kỳ một quốc gia hay một khu vực nào là khai thác hợp lý tiềm năng cho du lịch, đảm bảo chất lƣợng sản phẩm mà lại không gây tác động có hại ngƣợc trở lại môi trƣờng. DLST có thể tạo ra nguồn thu cho việc quản lý bảo tồn nguồn tài nguyên ngoài những lợi ích về văn hoá-xã hội. Sự đóng góp về tài chính với một phần chi phí trong chuyến đi của du khách có thể giúp chi trả cho các dự án bảo tồn đa dạng sinh học.