Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Hệ thống làng nghề truyền thống tại Việt Nam giữ vị trí quan trọng trong tiến trình phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội, đặc biệt tại khu vực Đồng bằng Bắc Bộ. Toàn quốc hiện có hơn 5.000 làng nghề và làng có nghề, trong đó có 1.748 làng nghề được công nhận chính thức với hơn 53 nhóm nghề và trên 200 loại sản phẩm thủ công khác nhau. Tại tỉnh Nam Định, theo số liệu của Sở Công thương, địa phương sở hữu 124 làng nghề thủ công, trong đó có 13 làng nghề chuyên về mộc và chạm khắc gỗ. Nổi bật trong số đó là làng mộc La Xuyên (xã Yên Ninh, huyện Ý Yên) – một làng cổ thuộc vùng văn hóa Sơn Nam Hạ với bề dày lịch sử hình thành và phát triển hơn 1.000 năm.

Mặc dù làng mộc La Xuyên sở hữu nghệ thuật chạm khắc gỗ đạt trình độ tinh xảo, hệ thống di tích lịch sử - kiến trúc đặc sắc và nguồn lao động dồi dào, song việc khai thác các giá trị này gắn với hoạt động du lịch vẫn mang tính tự phát, manh mún, chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn về việc tìm kiếm giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ và bảo tồn di sản văn hóa, tác giả Cù Phương Thảo đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp: "Phát triển du lịch làng nghề tại làng mộc La Xuyên – Nam Định".

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể gồm ba nhiệm vụ:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến hoạt động phát triển du lịch làng nghề truyền thống.
  2. Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng khai thác tiềm năng du lịch tại làng mộc La Xuyên (Nam Định) giai đoạn 2016–2021.
  3. Đề xuất hệ thống giải pháp khả thi nhằm thúc đẩy phát triển du lịch làng nghề tại làng mộc La Xuyên trong giai đoạn tiếp theo.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các hoạt động, điều kiện và giải pháp phát triển du lịch tại làng mộc La Xuyên (không đi sâu vào phân tích thuần túy kỹ thuật gia công sản xuất gỗ).
  • Phạm vi không gian: Địa bàn làng mộc La Xuyên, xã Yên Ninh, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định cùng các tuyến điểm di tích, danh thắng liên kết phụ cận.
  • Phạm vi thời gian: Dữ liệu khảo sát và số liệu thực tế được thu thập trong giai đoạn 5 năm (đến hết tháng 12 năm 2021).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận tiếp cận vấn đề nghiên cứu dựa trên các khái niệm và khung lý thuyết chuẩn hóa về làng nghề và du lịch làng nghề:

  • Khái niệm làng nghề: Văn bản tổng hợp ba quan điểm tiếp cận chính và áp dụng định nghĩa của Tổng cục Du lịch (2020), xác định làng nghề du lịch là một không gian lãnh thổ nông thôn, ở đó người dân không chỉ tổ chức sản xuất một hoặc một số sản phẩm thủ công truyền thống mà còn cung ứng các dịch vụ phục vụ và thu hút khách du lịch.
  • Khái niệm du lịch làng nghề: Được định vị là loại hình du lịch văn hóa tổng hợp, đưa du khách đến tham quan, thưởng ngoạn cảnh quan, tìm hiểu quy trình kỹ thuật, tiếp cận giá trị văn hóa bản địa và mua sắm sản phẩm đặc trưng.
  • Đặc trưng sản phẩm du lịch làng nghề: Khóa luận xác định sản phẩm du lịch làng nghề cấu thành từ không gian văn hóa (đình, đền, chùa, lễ hội), tính hiện hữu của hoạt động sản xuất, các dòng sản phẩm thủ công đơn chiếc có hàm lượng mỹ thuật cao, hoạt động thương mại - thương hiệu và vị trí liên kết không gian giao thông.

Khóa luận sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu học thuật và thực tiễn:

  • Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp: Kế thừa các dữ liệu từ sách báo chuyên ngành, ấn phẩm của Tổng cục Du lịch, báo cáo thống kê của Sở Công thương, Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch tỉnh Nam Định, Ủy ban nhân dân huyện Ý Yên và tài liệu của Hiệp hội Làng nghề Việt Nam.
  • Phương pháp khảo sát, phân tích và xử lý số liệu: Thu thập dữ liệu thực địa thông qua phỏng vấn trực tiếp 28 hộ gia đình sản xuất mộc, khảo sát 20 doanh nghiệp chế biến gỗ, các xưởng xẻ vi tính và điểm bán hàng lưu niệm tại địa bàn xã Yên Ninh.
  • Phương pháp chuyên gia: Tham vấn ý kiến chuyên môn của giảng viên hướng dẫn (ThS. Nguyễn Thị Phương Thảo), nghệ nhân cao tuổi trong làng và cán bộ quản lý doanh nghiệp địa phương (như đại diện doanh nghiệp Đồ gỗ Hiền Oanh) nhằm xác thực thông tin và định hướng giải pháp.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về du lịch làng nghề

Chương này tập trung xây dựng cơ sở lý luận về vai trò của làng nghề trong phát triển du lịch, phân tích mối quan hệ tương hỗ giữa bảo tồn văn hóa và phát triển kinh tế nông thôn. Tác giả phân tích các yếu tố tiền đề để một làng nghề có thể gắn kết với du lịch, bao gồm: sự am hiểu văn hóa của người thợ thủ công (đóng vai trò như thuyết minh viên), không gian trưng bày bảo tàng, vệ sinh cảnh quan môi trường và vai trò điều phối của các hội nghề nghiệp.

Để minh chứng cho tính thực tiễn, chương 1 dẫn chứng kinh nghiệm khai thác du lịch tại một số làng nghề tiêu biểu của Việt Nam như gốm sứ Bát Tràng, lụa Vạn Phúc, đúc đồng Tống Xá, hoa giấy Thanh Tiên (Thừa Thiên Huế) và gốm cù lao An Hiệp (Đồng Tháp). Tiểu kết chương chỉ rõ thực trạng chung của hơn 5.000 làng nghề trong cả nước: tiềm năng văn hóa rất lớn nhưng việc khai thác du lịch phần lớn còn tự phát, hạ tầng thiếu đồng bộ, sản phẩm du lịch thiếu tính cạnh tranh và môi trường làng nghề đang chịu áp lực ô nhiễm nghiêm trọng.

Chương 2: Thực trạng phát triển du lịch làng nghề tại làng mộc La Xuyên – Nam Định

Chương 2 cung cấp bức tranh toàn diện và chi tiết về lịch sử, nguồn lực sản xuất và thực trạng hoạt động du lịch tại làng mộc La Xuyên:

  • Lịch sử hình thành: Làng mộc La Xuyên có lịch sử hơn 1.000 năm, khởi nguồn từ thế kỷ X thời nhà Đinh. Vị tổ nghề là cụ Ninh Hữu Hưng (936–1020), người được vua Đinh Tiên Hoàng phong chức Công Tượng Lục Phủ Giám Sát Tướng Quân để chỉ huy xây dựng cung điện kinh đô Hoa Lư. Thời Tiền Lê, cụ theo vua Lê Đại Hành về vùng đất Cái Nành (nay là La Xuyên), chiêu dân lập ấp và truyền nghề mộc chạm khắc. Sau khi cụ mất vào ngày 6 tháng 4 năm Kỷ Mùi (1019), dân làng tôn vinh làm Lão La Đại Thần và lập đình thờ tự.

  • Quy mô sản xuất và cơ cấu sản phẩm: Toàn bộ làng có diện tích khoảng 3 km² với trên 5.000 nhân khẩu. Nghề mộc phát triển mạnh mẽ với cụm công nghiệp làng nghề quy mô 16 ha, quy tụ 24 doanh nghiệp và hơn 1.000 cơ sở sản xuất, giải quyết việc làm cho khoảng 5.000 lao động tại chỗ (thợ chạm khắc chiếm 60%) và thu hút lao động từ Thái Nguyên, Lạng Sơn, Ninh Bình. Sản phẩm chính được chia làm 3 nhóm:

    1. Đồ gia dụng: Sập gụ, tủ chè, bàn ghế (hơn 100 mẫu mã theo danh mục của Hiệp hội Làng nghề), lan can, cửa gỗ.
    2. Đồ mỹ nghệ: Tranh rẻ quạt thi họa, tranh tứ quý (tùng, cúc, trúc, mai), tranh khảm trai, tượng phong thủy chế tác từ gỗ Nu cao cấp.
    3. Đồ thờ cúng: Bàn thờ, ngai thờ, cuốn thư, câu đối chữ Hán khảm trai đánh véc-ni trên chất liệu gỗ gụ đặc trưng.
Tiêu chí khảo sát Số liệu ghi nhận tại làng mộc La Xuyên
Diện tích tự nhiên Khoảng 3 km²
Quy mô cụm công nghiệp tập trung 16 ha (24 doanh nghiệp, hơn 1.000 cơ sở)
Tổng số hộ chế biến, kinh doanh đồ gỗ Khoảng 580 hộ (200 hộ có cửa hàng mặt đường, 380 hộ làm tại nhà)
Số doanh nghiệp chế biến gỗ Khoảng 40 doanh nghiệp (20 doanh nghiệp hoạt động hiệu quả)
Xưởng xẻ gỗ trang bị máy CD 20 hộ gia đình (sản lượng xẻ khoảng 25.000 m³ gỗ/năm)
Tỷ lệ cơ sở sản xuất kết hợp nơi ở 89,3% (25/28 hộ khảo sát)
Tỷ lệ cơ sở có xưởng sản xuất tách biệt Khoảng 10%
Nguồn gốc trang thiết bị máy móc 83% Việt Nam & Trung Quốc; 12,5% Đài Loan & Malaysia; 4% Nhật Bản
Cơ cấu lao động toàn ngành mộc địa bàn Khoảng 10.000 người (lao động nữ chiếm 14–20%)
Thu nhập bình quân lao động nam 200.000 – 300.000 đồng/ngày (thợ tay nghề cao: 500.000 – 600.000 đồng/ngày)
Thu nhập bình quân lao động nữ 100.000 – 200.000 đồng/ngày (chủ yếu đánh giấy ráp, hoàn thiện)
  • Tiềm năng du lịch nhân văn: Điểm nhấn là quần thể di tích kiến trúc gỗ lim Đình và Phủ La Xuyên với nghệ thuật chạm lộng, chạm bong tinh xảo từng được cố kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện đề nghị đưa vào danh mục bảo tàng nghệ thuật cổ vùng Sơn Nam. Lễ hội làng truyền thống diễn ra từ ngày 9 đến 11 tháng 3 Âm lịch (đặc biệt tổ chức lớn 3 năm một lần vào các năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu) với nghi thức rước nước từ sông Sắt, trình diễn tay nghề mộc; lễ giỗ Tổ nghề diễn ra vào ngày 24 tháng 4 Âm lịch.

  • Thực trạng khai thác và rào cản du lịch: Trong giai đoạn 5 năm, làng đón hàng nghìn lượt khách nội địa (thường ghép trong tour Đền Trần, Chùa Phổ Minh hoặc Bái Đính - Tràng An) và khoảng 200 lượt khách quốc tế mỗi năm (chủ yếu từ Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Nhật Bản với mục đích tìm nguồn hàng nhập khẩu kết hợp tham quan). Tuy nhiên, dịch vụ du lịch còn rất sơ sài: cơ sở lưu trú hạn chế (chỉ có một số nhà nghỉ, khách sạn nhỏ như Thùy Dương, Sao Mai, nhà hàng Hương Quê); phần lớn khách tham quan dưới 1 ngày; thiếu đội ngũ hướng dẫn viên chuyên trách; môi trường bị ô nhiễm tiếng ồn, bụi cưa và nước thải chưa qua xử lý.

Chương 3: Giải pháp phát triển du lịch làng nghề tại làng mộc La Xuyên – Nam Định

Dựa trên các hạn chế đã chỉ ra, chương 3 đề xuất hệ thống 6 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Đa dạng hóa hoạt động và sản phẩm du lịch: Thiết kế tour trải nghiệm cho du khách tự tay tham gia các công đoạn chạm khắc gỗ; phát triển các sản phẩm mỹ nghệ lưu niệm kích thước nhỏ, gọn nhẹ; xây dựng tuyến du lịch sinh thái cộng đồng liên kết làng La Xuyên với mô hình nhà bổi vùng đồng bằng ven biển và Vườn Quốc gia Xuân Thủy.
  2. Nâng cấp hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật: Tận dụng hệ thống giao thông mới hoàn thiện (Quốc lộ 10, QL38B, QL37B, tuyến đường Lương - Trị dài 13,5 km kinh phí 144,1 tỷ đồng, tuyến Chính - Phong 40,5 tỷ đồng); quy hoạch bãi đỗ xe du lịch, khu vệ sinh công cộng đạt chuẩn và hệ thống nhà xưởng tách biệt khu dân cư.
  3. Đẩy mạnh xúc tiến, quảng bá và xây dựng thương hiệu: Đăng ký bảo hộ nhãn hiệu tập thể, thiết kế logo nhận diện, xây dựng website làng nghề chuyên nghiệp, phối hợp các đài truyền hình (tiếp nối chương trình "Gìn giữ cho muôn đời sau" của VTC) và quảng bá tại hội chợ du lịch.
  4. Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực du lịch: Phối hợp Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch mở các lớp bồi dưỡng kỹ năng giao tiếp, nghiệp vụ thuyết minh tại điểm, lễ tân và ngoại ngữ cho các hộ kinh doanh, nghệ nhân.
  5. Bảo vệ môi trường và giữ gìn giá trị văn hóa: Lắp đặt hệ thống hút bụi gỗ, xử lý nước thải làng nghề, vận hành hiệu quả 5 nhà máy nước sạch tập trung trên địa bàn; bảo tồn các nghi lễ dân gian và không gian kiến trúc đình, đền cổ.
  6. Hoàn thiện công tác quản lý và quy hoạch: Tăng cường vai trò điều phối của Hiệp hội Làng nghề La Xuyên, thiết lập cơ chế liên kết ba bên chặt chẽ: Chính quyền địa phương – Làng nghề – Doanh nghiệp lữ hành.

Kết quả và đóng góp

  • Hệ thống hóa dữ liệu thực nghiệm: Khóa luận phản ánh chính xác bức tranh tiểu thủ công nghiệp tại La Xuyên với các số liệu cụ thể: quy mô 580 hộ sản xuất, 40 doanh nghiệp, sản lượng 25.000 m³ gỗ qua 20 xưởng xẻ máy CD mỗi năm, cơ cấu lao động 10.000 người và tỷ lệ 89,3% cơ sở sản xuất tại nơi ở gây xung đột không gian du lịch.
  • Xác định các chỉ số khai thác du lịch: Làm rõ lượng khách quốc tế đạt khoảng 200 lượt/năm, chủ yếu đi theo nhóm nhỏ 4–5 người từ Đông Á; chỉ ra điểm nghẽn lớn nhất là 100% khách không lưu trú dài ngày do thiếu dịch vụ bổ trợ.
  • Đóng góp giải pháp ứng dụng: Đề xuất được mô hình liên kết không gian du lịch liên tỉnh (Nam Định – Ninh Bình), giải pháp chuyển đổi cơ cấu sản phẩm từ đồ gỗ khổ lớn sang đồ lưu niệm mỹ nghệ nhỏ gọn phục vụ khách du lịch, và kiến nghị cơ chế bảo tồn nghệ thuật chạm khắc cổ truyền thông qua chính sách tôn vinh nghệ nhân cao tuổi.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của khóa luận:
    • Phạm vi khảo sát thực địa còn giới hạn ở 28 hộ gia đình và một số doanh nghiệp tiêu biểu, chưa bao quát toàn diện hơn 1.000 cơ sở sản xuất trong toàn xã.
    • Chưa xây dựng được các mô hình định lượng đánh giá mức độ hài lòng hoặc hàm lượng chi tiêu thực tế của khách du lịch tại làng nghề.
    • Nghiên cứu được hoàn thành vào cuối năm 2021 nên chịu ảnh hưởng nhất định bởi bối cảnh hạn chế đi lại trong giai đoạn phòng chống dịch bệnh.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Đánh giá sức tải môi trường và tính toán chi tiết chi phí xử lý chất thải làng nghề khi chuyển đổi sang mô hình đón tiếp du lịch đại trà.
    • Nghiên cứu chuyên sâu về chuỗi cung ứng gỗ nguyên liệu nhập khẩu hợp pháp gắn với phát triển du lịch làng nghề bền vững.
    • Thiết kế chi tiết mô hình hợp tác xã du lịch cộng đồng tại làng La Xuyên nhằm phân chia lợi ích kinh tế công bằng cho các hộ dân tham gia dịch vụ.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng sử dụng: Sinh viên, học viên ngành Quản trị Dịch vụ Du lịch và Lữ hành, Văn hóa học, Quản trị Kinh doanh, Quản lý Kinh tế nông thôn; cán bộ quy hoạch phát triển du lịch tại các cơ quan quản lý nhà nước cấp huyện, tỉnh.
  • Phần nội dung có giá trị tham khảo cao:
    • Chương 2 là nguồn tư liệu thực địa có giá trị về lịch sử tổ nghề Ninh Hữu Hưng, kiến trúc Đình - Phủ La Xuyên, quy trình chạm khắc gỗ truyền thống và số liệu thống kê chi tiết về hiện trạng cơ sở hạ tầng giao thông huyện Ý Yên.
    • Bộ tiêu chuẩn về điều kiện đón khách và nhóm giải pháp liên kết lữ hành tại Chương 3 có thể ứng dụng trực tiếp làm tài liệu tham khảo xây dựng đề án phát triển du lịch làng nghề tại các địa phương khác thuộc khu vực Đồng bằng sông Hồng.

Câu hỏi thường gặp

1. Ai là vị tổ nghề của làng mộc La Xuyên và lịch sử truyền nghề diễn ra như thế nào?
Tổ nghề làng mộc La Xuyên là cụ Ninh Hữu Hưng (936–1020), quê gốc tại Gia Viễn, Ninh Bình. Thời nhà Đinh, cụ được phong chức Công Tượng Lục Phủ Giám Sát Tướng Quân phụ trách xây dựng kinh đô Hoa Lư. Thời Tiền Lê, cụ theo vua Lê Đại Hành đến vùng đất Cái Nành (La Xuyên ngày nay), được vua cho ở lại lập ấp, mở mang nghề mộc và chạm khắc cho dân làng. Dân làng suy tôn cụ là Lão La Đại Thần và thờ tại Đình La Xuyên.

2. Sản phẩm làng mộc La Xuyên gồm những loại hình chính nào và có nét gì đặc trưng?
Sản phẩm làng mộc La Xuyên chia thành 3 nhóm chính: đồ gia dụng (sập gụ, tủ chè, bàn ghế với hơn 100 mẫu mã), đồ mỹ nghệ (tranh phong cảnh, tranh tứ quý, tượng gỗ Nu) và đồ thờ cúng (cuốn thư, câu đối, ngai thờ, bàn thờ). Nét đặc trưng của đồ thờ La Xuyên là làm bằng gỗ gụ, chữ Hán khảm trai và đánh véc-ni bóng sáng, khác biệt với sản phẩm gỗ mít sơn son thếp vàng của các làng lân cận như Ninh Xá Thượng, Ninh Xá Hạ.

3. Khảo sát thực tế của tác giả chỉ ra hiện trạng mặt bằng và công nghệ sản xuất tại La Xuyên ra sao?
Kết quả khảo sát 28 hộ gia đình cho thấy 89,3% (25 hộ) sử dụng chính nơi ở làm nhà xưởng sản xuất, chỉ 10% có xưởng tách biệt. Về máy móc thiết bị, 83% có nguồn gốc từ Việt Nam và Trung Quốc, 12,5% từ Đài Loan và Malaysia, 4% là máy bãi nhập khẩu từ Nhật Bản; các hộ gia đình đang có xu hướng đầu tư nhiều hơn vào máy chạm khắc CNC và máy xẻ vi tính.

4. Khách du lịch đến làng mộc La Xuyên có đặc điểm hành vi như thế nào?
Khách nội địa đến La Xuyên chủ yếu đi kết hợp trong các tour di tích Đền Trần (Nam Định) hoặc Bái Đính, Tràng An (Ninh Bình). Khách quốc tế đạt khoảng 200 lượt/năm (đến từ Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Nhật Bản), thường đi theo nhóm nhỏ 4–5 người có hướng dẫn viên, vừa tham quan vừa tìm kiếm đối tác nhập khẩu hàng thủ công mỹ nghệ. Đa số khách chỉ tham quan trong ngày và không lưu trú qua đêm.

5. Những rào cản lớn nhất đối với sự phát triển du lịch tại làng mộc La Xuyên là gì?
Các rào cản chính gồm: hoạt động sản xuất nằm xen lẫn trong khu dân cư gây ô nhiễm bụi gỗ và tiếng ồn; hạ tầng dịch vụ du lịch (lưu trú, ăn uống, bãi đỗ xe) chưa hoàn thiện; nguồn nhân lực du lịch thiếu chuyên môn và ngoại ngữ; hoạt động quảng bá chưa tạo được điểm nhấn thương hiệu văn hóa; các chương trình du lịch của công ty lữ hành còn mang tính hình thức, thời gian lưu lại của du khách rất ngắn.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Cù Phương Thảo đã hoàn thành mục tiêu nghiên cứu thông qua việc hệ thống hóa cơ sở lý luận về du lịch làng nghề và phân tích chi tiết thực trạng tại làng mộc La Xuyên (Nam Định). Tác giả đã chỉ rõ tiềm năng văn hóa - lịch sử hơn 1.000 năm cùng năng lực chế tác gỗ đỉnh cao của làng nghề, đồng thời nhận diện chuẩn xác các điểm nghẽn về hạ tầng, môi trường và nhân lực du lịch. Hệ thống giải pháp được đề xuất mang tính đồng bộ, từ quy hoạch không gian, đào tạo nhân lực đến liên kết tour tuyến, cung cấp cơ sở thực tiễn hữu ích cho công tác quản lý và định hướng phát triển du lịch làng nghề bền vững tại địa phương.