Chương 1, điề 3, khoản 2, giải thích từ ngữ làng nghề như sau: "Làng nghệ là một hoặc nhiều cụm đân cự cắp thôn. ấp, bản, làng. buôn phưm, sức hoặc các điền dân cự tương tự tham gia hoại động ngành nghề nông thôn uy định tại Điều 4 Nghị định này”: (Chính phủ, 2018: 3) [Nhur vay, t 66 thể thấy, có rắt nhiều khái niệm khác nhau về làng nghề. Trong đề tài, tác giả đã sử dụng thuật ngữ làng nghề theo Nghị định số 52/2018/NĐ-CP để làm cơ.
sở cho việc nghiên cứu. Từ đồ, ta có thể hiểu khái quát về làng nghề như sau: (1) Lắng nh lả một không gian cộng cư thể hiện được kinh tế, văn hỏa, xã hội, mả ở đỏ tất cả người dân sản xuất và kinh doanh các sản phẩm thủ công. (2) Làng nghề cỏ thể được hình thành bằng nhiễu phương thức khác nhau như: làng nghề cổ truyền sẽ được hình. thành trước, sau đó được vị tổ nghề truyền dạy lại hoặc công có th là người dân sẽ học "nghề từ vùng khác mang về làng mình và hình thành làng có thợ, có nghề, (3) Lắng nghề cũng có thể làm kết hợp nông nghiệp với thủ công, dần dẫn nông nghiệp được chuyển.
dồi cơ cẫu sản xuất với thủ công. Thu nhập từ các nghề đồ chiếm ti trọng khá cao trong tổng giá trị sản phẩm của toàn lảng. Khái niệm Đu lịch làng nghề Khái niệm về Du lịch làng nghề vẫn còn là một khái niệm mới đối với nước ta Theo PGS.TS Phạm Quốc Sử trong cuốn Phát triển Du lịch làng nghề - nghiên cứu. trường hợp tỉnh Hà Tây, ông nhận định: “Du lich ling nghệ là một loại hình du lịch sinh thái nhân văn được tiến hành tại các làng nghệ tiêu biểu, mà ở đồ cần lưu giữ tương đối "nguyên vẹn cúc di sản văn hóa làng xã truyễn thống đặc bi àtruyễn thẳng công nghệ tổ ông qua bàn tay tài hoa của những nghệ nhân tà gi”.
(Phạm Quốc Sử, 2007: 19) = ' một góc nhìn khác, PGS.TS Phạm Trung Lượng, Viện nghiên cứu phát triển “du lịch cũng đã nhận định về du lịch làng nghề. Từ nhận định của ông ta có thể hiểu. ring du lich làng nghề là loại ình du lịch văn hóa tổng hợp, ta đưa du khách tới tham ‘quan ma 6 đó du khách có thể thẩm định, nhin nhận các giá tị văn hóa và mua sắm những bàng hóa đặc trưng của làng nại “Từ những nhận định trên ta có thể thấy, du lịch làng nghề thực chất là một khái niệm thuộcvề Du lịch văn hóa. Theo Luật Du lịch Việt Nam (2017), "2w lịch vấn hóa là loại hình du lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc với sự tham gia của cộng đẳng, nhằm bảo tổn và phát huy các gid tri vấn hỏa truyền thẳng ” (Quốc Hội nước CHXHCN.
Có 06 loại hình du lịch văn hóa, trong đó bao gồm Du lịch làng nghề. Như vậy, ta có thể hiểu, dụ lịch làng nghề là loại hình du lịch nhằm khai thác các giá tị văn hóa vật thể và phí vật th, Các sản phẩm mà làng nghề tạo ra được xem là ải nguyên du lịch có giá trị, chúng được khai thác để góp phần phục vụ cho du lịch, đáp. ứng nhu cầu vui chơi, giải trí, trải nghiệm với các công đoạn của làng nghề, nghiên cứu. tham quan tìm hiểu văn hóa của du khách khi đến với điểm tham quan, bên cạnh đó, Jang nghề không chỉ mang lại các giá tị về kính tế cho địa phương nồi riêng và cả nước nói chung mà còn góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyễn thống của dân tộc 1.
Đặc điền và phân loại làng nghề Đặc điểm làng nghề Dai tên, phải kể đến khi nhắc về đặc điểm của làng nghề đó là làng nghề tổn tại c nông thôn, có sự liên kết chặt chế với nông nghiệp. Các làng nghề được hình thành tử trong làng xã ở nông thôn, bình thành các ngành nghề thủ công, về sau các ngành nghề thủ công tách dẫn sang sản xuất nhưng không rời hỏi nông thôn mà sản xuắt nông nghiệp sẽ kết hợp đồng thời với sản xuất kỉnh doanh thủ công nghiệp và người nông dân cũng trở thành người thợ thủ công Thứ hai, là công nghệ sản xuất sân phẩm và các thiết bị máy móc trong làng nghề “còn khá thô sơ, lạc hậu, chủ yếu là sử dụng kĩ thuật thủ công. Nói đến công cụ lao động 20 trong các làng nghề chủ yếu cũng chỉ là công cụ thủ công, công nghệ sẵn xuất còn mang tính đơn chiếc. Nhiều loài sản phẩm cẳn đến độ ỉ mĩ cao thì hoàn toàn vẫn dựa vào đổi tay khếo léo của người thợ mã không có trang thiết bị hỗ trợ.
Mặc dù hiện nay đã cổ sự hỗ trợ của cơ khí hóa và điện khí hóa trong sản xuất nhưng một số nghề vẫn bị hạn chế trong một số công đoạn nhất định khi sản xuất sản phẩm, Thứ ba, là nguyên vật iệu của các làng nghề thường là tự cung tự cấp. Hằu như các làng nghề hình thành đều xuất phát từ việc có sẵn các nguyên liệu tại chỗ, trên địa phương, Một số nguyên iệu qui hiểm vẫn phải nhập từ vùng khắc hay nước ngoài sang nhưng không nhiễu. Thứ t, hình thú tổ chúc sản xuất trong các làng nghề chủ yếu là ở quy mô hộ gia đình, một số đã có sự phát triển và trở thành tổ chức hợp tác và doanh nghiệp tư nhân, Thứ năm, là thị trường tiêu thụ của sản phẩm chưa nhiều, mang tỉnh địa phương. Vì bạn đầu, sự ra đời của các làng nghề bắt nguồn từviệc đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng ti chỗ của các địu phương.
Mỗi làng nghề hoặc một cụm làng nghề đều có các chợ và họ dùng chính sản phẩm làm ra được đẻ trao đổi, buôn bán, và tiêu thụ sản. Như vậy thị trường tiêu thụ của làng nghề chủ yếu vẫn là ở từng địa phương. ỉnh liên tỉnh, chỉ có một phẩn là được xuất khẩu, DS i những đặc điểm cơ bản của làng nghề mã tá gi nhận thy dug, Tuy nhiên, hiện nay với trình độ khoa học và công nghệ dang ngày cảng phát triển, tì việc các lãng nghề ứng dụng khoa học - công nghệ vào các công đoạn sản xuất, đã góp phần giảm bớt được lao động thủ công. Việc dạy nghề trước đây chỉ theo phương thức truyền nghề từ đi này sang đời khác và khuôn khổ trong từng làng, tì hiện nay đã có nhiều cơ sở kinh doanh và hợp tác xã lâm nghề thủ công truyền thông được mở ra, điều này cũng gốp, phần làm thay đổi phương thức truyền nghề, đa dạng và phong phú hơn “Phân loi lùng nghề “heo Điều 5 Nghị định 52/2018/NĐ-CP quy định vé tiêu chí công nhận nghề truyền thống, làng nghé, king nghề truyền thông, làng nghề được công nhận phải đáp ứng đủ 03 tiêu chí sau; ma Một là, có tối thiểu 30% tổng số hộ dân trên địa bàn tham gia một trong các hoạt động hoặc các hoạt động ngành nghề nông thôn.
Hải là, cổ tố thiêu 02 năm liên tục hoạt động sản xuất kỉnh doanh ổn định tính từthời điểm để nghị công nhận Ba li, dp ứng các điều kiện bảo vệ môi trường làng nghề tho qui định (Cé rit nhiều cách phân loại làng nghề khác nhau, tủy theo mục đích nghiên cứu và góc độ tiếp cận, tác giả đã chỉ ra một số tiêu chí phân loại làng nghề như sau: - Tiêu chí phân loại đựa vào lịch sử hình thành, vớitiêu chí nấy lãng nghsẽ được phân loại thành làng nghề truyền thống và làng nghề mới: + Lãng nghề truyền thống: là những làng ngh thủ công xuất hiện lâu năm, thường là trải qua nhiễu thé hệ và tổn tại cho đến ngày nay, tiêu biểu như: làng tranh Đông HỖ, làng gồm Bát Trăng + Lãng nghề mới: là những lãng ngh xuất hiện trong thời gian gần đây do sự tác động của việc tổ chức sản xuất,gia công cho các xí nghiệp lớn, các tô chức kinh doanh xuất nhập khẩu, sự phát triển diện rộng của các làng nghề truyền thống và có sự đầu tư sản xuất, Hoặc cũng có thể là một nghề mới mang dấu ắn của nghề thủ công truyền thống, tự hình thành do nhu cầu của thị trường đổi mới cả tiêu thụ sản phẩm lẫn nguồn nguyên liệu ~ Tiêu chí phân loại dựa vào số lượng ngành nghề có trong lang, theo tiêu chi nay, Lăng nghề sẽ được chía thành làng một nghề và làng nhiều nghề. + Làng một nghề: là làng chỉ có duy nhất một nghề thủ công truyền thông xuất hiện và tên tại hoặc chỉ có một nghề chim tu th tuyệt đối, các nghề côn ại chỉ có một vài hộ và số lượng không đáng kể, tiêu biểu như: làng đá Non nước, làng trống Lâm ‘Yen, ling din Dio Xa n + Laing nhigu nghé: Wi những làng có số lượng nghề thủ công truyền thống trong làng cùng xuất hiện, tồn tại và phát triển như nhau, tiêu biểu như: làng Đình Bảng, làng. Ninh Hiệp, lãng Kiều Kỳ Ngoài những tiêu chí trên, người ta còn phân loại làng nghề dựa theo những tiêu “chí khác như: theo ngành sản xuất, theo loại sản phẩm, theo quy mô sản xuất, theo thị trường tiêu th, tiềm năng tồn ti và phát ign Bên cạnh đó, căn cứ vào chức năng của hàng hóa mà làng nghề được chia thành. các nhóm nhỏ như sau: ~ Nhóm làng nghề sân xuất các mặt hảng thủ công mỹ nghệ có thể kể đến như L tranh sơn mài, thêu, ren, chạm khắc, đêt.
~ Nhóm lằng nghề sản xuất công cụ sản xuất như rên, đồng thuyên. ~ Nhóm lũng nghề sản xuất các mặt hàng phục vụ tiêu dũng hằng ngày như lâm chiếu, làm nón, đan mảnh, „may mặc - Nhóm làng nghề chế biển lương thực, thực phẩm như làm bản, bánh trắng, đường, mật lâm tương, nấu rượu 1. Bio in và phát tiễn làng nghề với phát tiễn dụ lịch Khái niệm phái triễn du lịch “Theo từ điển Hán — Việt, “phát tri 1” được hiểu là rộng ra hay mở mang rộng lớn hơn. Theo quan điểm của triết học duy vật biện chứng thi “plát triển là sự vận động.
tiển lên từ thắp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp và từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện .” (Đoàn Quang Tho, 2007: 345) “Theo từ điển Cambridge (Cambridge Dictionary), “phat trién” la sy lớn lên hoặc. thay đổi theo một hình thức tiên tiến, lớn mạnh hơn. Như vậy, có thể nói, phát triển thuộc về phạm trù triết học, nó lả quá trình, khuynh hướng vận động tiền lê từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phúc tạp, từ kém hoàn thiện dén han thiện, Triết học duy vật biện chứng đã khẳng định, hát tiể có những tính 2 chất sau tính phổ biển.