Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về thu hút vốn đầu tư vào phát triển du lịch. Chương 2: Thực trạng thu hút vốn đầu tư vào phát triển du lịch ở huyện 'ghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Chương 3: Giải pháp đ;y mạnh thu hút vốn đầu tư vào phát triển du lịch của huyện 'ghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. 5 GVHD: Ths Trần Công Dũng PHẦ II: ỘI DU G VÀ KẾT QUẢ GHIÊ CỨU CHƯƠ G 1: CƠ SỞ LÝ LUẬ VÀ THỰC TIỄ VỀ THU HÚT VỐ ĐẦU TƯ VÀO PHÁT TRIỂ DU LNCH.
Cơ sở lý luận về thu hút vốn đầu tư vào phát triển du lịch. Tổng quan về đầu tư 1. Khái niệm đầu tư và vốn đầu tư a. Đầu tư Theo luật đầu tư 2005 Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
[1] Luật Đầu tư năm 2014 đưa ra khái niệm “Đầu tư kinh doanh” để thay thế cho các khái niệm đầu tư, đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp.Luật Đầu tư năm 2014 (khoản 5, Điều 3) định nghĩa: “Đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư. Vốn đầu tư Luật Đầu tư năm 2005 thì đưa ra định nghĩa về Vốn đầu tư là tiền và các tài sản hợp pháp khác để thực hiện các hoạt động đầu tư theo hình thức đầu tư trực tiếp hoặc đầu tư gián tiếp. [1] Hoạt động đầu tư là quá trình sử dụng vốn đầu tư nhằm duy trì tiềm lực sẵn có hoặc tạo ra các nguồn lực lớn hơn cho các ngành của nền kinh tế quốc dân, như vậy vốn đầu tư chính là tiền đề ban đầu trong quá trình đầu tư nhằm đạt được mục đích của quá trình đầu tư. Vốn đầu tư là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ chi phí cần thiết để tạo nên thực thể công trình có đủ điều kiện để đưa vào khai thác sử dụng.
N ó phản ánh khối lượng xây dựng mới, xây dựng lại khôi phục và mở rộng các tài sản cố định của ngành thuộc khu vực sản xuất vật chất và không sản xuất vật chất. 6 GVHD: Ths Trần Công Dũng 1. Phân loại đầu tư và nguồn vốn đầu tư a. Phân loại đầu tư Đầu tư trực tiếp Theo luật Đầu tư 2005 Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư.
Đầu tư của chính phủ thông qua các chỉ tiêu về đầu tư các công trình, chính sách xã hội. Đầu tư gián tiếp Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác, quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua các định chế tài chính trung gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư. Đầu tư gián tiếp thường thông qua kênh tín dụng hay kênh đầu tư trên thị trường chứng khoán. Phân loại nguồn vốn Vốn đầu tư được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau và có thể dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại.
Tuy nhiên, chúng đều được hình thành trên cơ sở huy động các nguồn lực trong và ngoài nước, do vậy để thuận tiện trong quá trình phân tích, tìm hiểu, có thể phân nguồn vốn đầu tư thành nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài. guồn vốn trong nước Theo kinh nghiệm phát triển thì đây là nguồn vốn cơ bản, thể hiện sức mạnh nội lực của một quốc gia ưu điểm là bền vững ổn định chi phí thấp. Có vai trò quyết định chi phối mọi hoạt động đầu tư phát triển trong nước. Trong lịch sử phát triển các nước và trên phương diện lý luận chung, bất kỳ nước nào cũng phải sử dụng lực lượng nội bộ là chính.
Sự chi viện bổ sung từ bên ngoài chỉ là tạm thời, chỉ bằng cách sử dụng nguồn vốn đầu tư trong nước có hiệu quả mới nâng cao được vai trò của nó và thực hiện được các mục tiêu quan trọng đề ra của quốc gia. Vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước (N SN N ) Đầu tư từ N SN N là một bộ phận quan trọng trong toàn bộ khối lượng đầu tư. N ó có vị trí rất quan trọng trong việc tạo ra môi trường đầu tư thuận lợi nhằm đN y mạnh đầu tư của mỗi thành phần kinh tế theo định hướng chung của kế hoạch, chính sách và pháp luật đồng thời trực tiếp tạo ra năng lực sản xuất của một số lĩnh 7 GVHD: Ths Trần Công Dũng vực quan trọng nhất của nền kinh tế, đảm bảo theo đúng định hướng của chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế xã hội. Với vai trò là công cụ thúc đN y tăng trưởng, ổn định điều điều tiết vĩ mô, vốn từ N SN N đã được nhận thức và vận dụng khác nhau tùy thuộc quan niệm của mỗi quốc gia.
Trong thực tế điều hành chính sách tài khoá, N hà nước có thể quyết định tăng, giảm thuế, quy mô thu chi ngân sách nhắm tác động vào nền kinh tế. Tất cả những điều đó thể hiện vai trò quan trọng của N SN N với tư cách là công cụ tài chính vĩ mô sắc bén nhất hữu hiệu nhất, là công cụ bù đắp những khiếm khuyết của thị trường, đảm bảo công bằng xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái. Vốn đầu tư từ các doanh nghiệp Đây là nguồn vốn có sự phát triển và đổi thay khá mạnh khi nền kinh tế có sự chuyển biến. Các doanh nghiệp luôn là lực lượng đi đầu trong việc ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ, nêu gương về năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế xã hội và chấp hành pháp luật.
N ên nguồn vốn xuất phát từ nó có vai trò hữu hiệu hỗ trợ cho sự định hướng điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Vốn đầu tư của nhân dân N guồn vốn tiết kiệm của dân cư phụ thuộc rất lớn vào thu nhập và chi tiêu của các hộ gia đình. Đây là một lượng vốn lớn. N hờ có lượng vốn này mà đã góp phần giải quyết tình trạng thiếu vốn trong các doanh nghiệp, nó cũng giải quyết được một phần lớn công ăn việc làm cho lao động nhàn rỗi trong khu vực nông thôn từ đó thúc đN y quá trình tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân.
N hư vậy vốn đầu tư trong nước là nguồn cơ bản đảm bảo cho sự tăng trưởng kinh tế một cách liên tục, đưa đất nước đến sự phồn vinh một cách chắc chắn và lâu bền. Tuy nhiên trong bối cảnh nền kinh tế còn kém phát triển, khả năng tích luỹ thấp thì việc tăng cường huy động các nguồn vốn nước ngoài để bổ sung có ý nghĩa rất quan trọng. guồn vốn nước ngoài N ếu như vốn trong nước là nguồn có tính chất quyết định, có vai trò chủ yếu thì vốn nước ngoài là nguồn bổ sung quan trọng trong những bước đi ban đầu tạo ra “cú hích” cho sự phát triển. Điều này được thể nghiệm trên các vai trò cơ bản sau: 8 GVHD: Ths Trần Công Dũng • Một là: Bổ sung nguồn vốn cho đầu tư khi mà tích lũy nội bộ nền kinh tế còn thấp.
Đối với các nước nghèo và kém phát triển, nguồn vốn trong nước huy động được chỉ đáp ứng hơn 50% tổng số vốn yêu cầu. Vì thế gần 50% số vốn còn lại phải được huy động từ bên ngoài. Đó là lý do chúng ta phải tích cực thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài ( bao gồm vốn hỗ trợ phát triển chính thức - ODA, đầu tư trực tiếp nước ngoài - FDI…) • Hai là: Đảm bảo trình độ công nghệ cao phù hợp với xu thế phát triển chung trên toàn thế giới. Điều này giúp đN y nhanh sự phát triển của các dịch vụ cung cấp có chất lượng và cho phép sản xuất các sản phN m đáp ứng tiêu chuN n quốc tế - là cơ sở tạo nên sự bứt phá trong khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước trên thị trường quốc tế.
• Ba là: Con đường ngắn nhất đưa nền kinh tế nước ta hội nhập vào nền kinh tế thế giới và khu vực, cũng như đảm bảo các nghĩa vụ vay và trả nợ nhờ vào việc tăng cường được năng lực xuất khN u. • Bốn là: Có vai trò tích cực trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và chuyển giao công nghệ. Vốn hỗ trợ phát triển chính thức(ODA) Đây là nguồn vốn đầu tư nước ngoài tuy không quan trọng như nguồn FDI song cũng đã góp phần giải quyết nhiều vấn đề .Chủ yếu là cùng với FDI bổ sung cho vốn đầu tư phát triển. N goài ra ODA còn có vai trò quan trọng trong việc giúp các nước nghèo tiếp thu những thành tựu khoa học,công nghệ hiện đại và phát triển nguồn nhân lực.
Và cuối cùng ODA giúp các nước đang phát triển điều chỉnh cơ cấu kinh tế và tạo điều kiện để mở rộng đầu tư phát triển trong nước ở các nước đang và chậm phát triển. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Đây là nguồn vốn quan trọng nhất trong số các nguồn huy động từ nước ngoài. Không chỉ có vai trò tích cực trong việc phát triển kinh tế xã hội, mà biểu hiện cụ thể thông qua ba tiêu chí:Kích thích công ty khác tham gia đầu tư Góp phần thu hút viện trợ phát triển chính thức Gia tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế, do đó tăng thêm tỷ lệ huy động vốn trong nước. N goài ra FDI còn góp phần quan trọng vào việc đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ trong sản xuất, nâng cao sức cạnh tranh và tăng 9 GVHD: Ths Trần Công Dũng trưởng kinh tế.
FDI còn có vai trò tích cực trong việc góp phần giải quyết việc làm và quan trọng hơn cả là đào tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Số lượng lao động có việc làm và chuyên môn cao ở trong nước ngày càng tăng, và điều cơ bản mà FDI đã làm được đó là không chỉ nâng cao tay nghề mà còn thay đổi tư duy và phong cách lao động theo kiểu công nghiệp hiện đại, là lực lượng tiếp thu chuyển giao công nghệ và kinh nghiệm quản lý tiến bộ .