mở đầu ngày hội bao giờ cũng mang tính tưởng niệm lịch sử, hướng, về một sự kiện lịch sử trọng đại, một vị anh hùng dân tộc lỗi lạc có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của xã hội. Nghi lễ tạo thành nền móng vững chắc, tạo một yếu tô văn hoá thiêng liêng, một giá trị thâm mỹ đối với toàn thé cộng đồng người đi hội trước khi chuyển sang phần xem hội. Vì vậy có thé nói lễ là phần đạo của con người, nó chỉ phối mọi suy nghĩ và hành động của con người. +» Hệ thống hội Hội được tổ chức nhân dịp kỷ niệm một sự kiện quan trọng nào đó và liên quan đến cộng đồng như làng, bản.nhằm đem lại lợi ích tinh thần cho mọi thành viên của cộng đồng mang tính cộng đồng cả về tư cách tô chức lẫn mục đích của nó.
Hội còn là một hệ thống trò chơi diễn ra phong phú, đa dạng. Đó là sự cộng cảm cần thiết về phương diện tâm lý sau những ngày tháng lao động vất vả với những dồn nén cần được giải toả và thăng bằng trở lại. Mọi người vào hội để lãng quên nỗi vất vả, nhọc nhan và cả những điều ác, sự bất công.mà hướng tới niềm vui, sự sống và những tương lai tốt đẹp trong thời gian tới. Bởi vậy mà hội thường được kéo dài hơn lễ rất nhiều và được diễn ra sôi động, vui vẻ hơn.
Trong hội có thé kể đến các trò sau đây theo đặc trưng tương đối của nó:trò chơi mang tính phong tục (kéo co.), trò chơi mang tính thượng võ (đánh đu, đấu vật.), trò chơi mang tính nghề (thôi cơm thi, đánh cá, cấy lúa.), các trò giải trí (cờ người, hát bài chòi, đồ vui.), các hình thức hội hè vui chơi khác: lên đông, tướng sô. Hội là đê vui chơi 14 thoả thích đến mức thái quá để có được niềm vui vì những trò chơi đó dược phép vượt qua khuôn khổ nghỉ lễ, tôn giáo, tudi tác, dang cấp. Mọi người đến với lễ hội trong tinh thần cộng cảm, hồ hởi, sảng khoái và hoàn toàn tự nguyện. Ngoài vui chơi giải trí, ngoài gặp gỡ bạn bè, mọi người về dự lễ hội còn cảm thấy mình được thêm “lộc hội”.
Vì thế hội thường rất đông và nhộn nhịp. Tóm lại, lễ là tong thé nghi thức thể chế hoá trật tự, sắn liền với sự tích và quyền năng của Thần, diễn đạt mối quan hệ Người / Than. Hội thường được diễn ra bên ngoài thần điện, xung quanh thần điện hay mở rộng đến toàn bộ lãnh thổ cộng đồng, đến từng gia đình. Hội mang hai tính chất: chúc mừng thần linh và hưởng ân huệ mà thần linh ban cho.
Không nhất thiết có hội là phải có lễ và ngược lại. Hội hát quan họ Bắc Ninh không có lễ, không có quy định thể chế hoá mà cứ đến hẹn lại lên. Nhưng khi lễ và hội đã kết hợp thành lễ hội thì giữa lễ và hội có mối quan hệ tuy khác biệt mà vẫn là cơ bản. Hội cơ bản vẫn là đời thường, lễ cơ bản vẫn là đời thiêng.
Trong thực tế giữa lễ và hội khó có thể tách rời mà hoà quyện lại với nhau cả về phần lễ và phần hội, cả đạo lẫn đời đều là một cuộc vui lớn của cộng đồng nhằm đáp ứng yêu cầu giải trí, tín ngưỡng, thi thố tài năng, biểu dương sức mạnh, tái hiện cuộc sống trong trường kỳ lịch sử. Lễ hội không phải là mê tín dị đoan mà là một cách ứng xử thông minh khôn ngoan của con người đối với sức mạnh vô hình hay hữu hình mà họ không lý giải được. Lễ hội trở thành một hiện tượng văn hoá tong hợp thoả mãn nhu cầu tâm linh, tâm lý, vật chất của con người. Lễ hội là hoạt động sinh hoạt văn hoá xã hội không thể thiếu của con người mọi thời đại, mọi dân tộc 1.
Ý nghĩa của lễ hội truyền thống Như chúng ta đã biết, lễ hội có vai trò, ý nghĩa to lớn trong việc thê hiện tư tưởng, tình cảm, thái độ của người dân đối với thế giới đã khuất. Không chỉ vậy, thông qua lễ hội, con người tưởng nhớ tới công đức, ông bà tổ tiên thông 15 qua việc thờ cúng. Lễ hội cũng là địa điểm dé mọi người thi thé tài năng, với nhiều trò chơi dân gian như: đua thuyền, đánh đu, ném còn, hát giao duyên, hát đối đáp, hát bài chòi, đánh cờ người,. tạo điều kiện để người dân gần gũi nhau hơn, hiểu nhau và cùng nhau tham gia tích cực để dành chiến thắng trong các trò chơi.
Lễ hội được xem như là một điểm văn hoá sống, một bảo tàng sống của người Việt từ cỗ đại đến nay, đồng thời có tác dụng bảo lưu phát triển bản sắc văn hoá. Đối với mỗi cá nhân, lễ hội trở nên thân thiết, thiêng liêng, mãnh liệt. Đó là biểu hiện giá trị của một cộng đồng: Qua lễ hội, con người dường như lấy lại niềm tin, động lực sau những khó khăn của cuộc sống thường nhật. Lễ hội cũng là dịp để con người vươn lên đời sống văn hoá cao hơn và bộc lộ hết tinh hoa của mình.
Lễ hội là nơi nhắc nhở người ta sống mực thước, góp phần làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn. Bên cạnh đó, lễ hội là nơi thể hiện năng khiếu thâm mĩ của cộng đồng, tất cả phải được chuẩn bị hết sức chu đáo. Hơn nữa, lễ hội khuyến khích tài năng lao động và vui chơi, đề cao cái cao cả, cái bi, cái hài của cuộc sống. Chính vì thế, lễ hội có vai trò quan trọng không chỉ trong đời sống hàng ngà với ý nghĩa văn hoá mà nó còn là một trong những khuôn mẫu chuẩn mực để con người noi theo.
Do vậy, nếu muốn lễ hội nước ta giữ được bản sắc thì chúng ta cần khắc phục một số mặt tiêu cực như thương mại hoá các hoạt động mê tín dị đoan, tệ nạn đánh bạc tập quán lạc hậu. Lễ hội đền Bạch Mã trong đời sống cư dân địa phương - Giáo dục cho tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ về truyền thống “ Uống nước nhớ nguồn”, tưởng nhớ công ơn của các bậc tiền bối có công, xây dựng bảo vệ Tổ Quốc, quê hương. - Nhằm bảo tồn phát huy các giá trị văn hóa, tinh thần của nhân dân - Tạo ra sự giao lưu văn hóa, thể dục thể thao cho con em trong toàn huyện cũng như các vùng lân cận, đưa lễ hội trở thành sinh hoạt truyền thống 16 nhân dân, đáp ứng nhu cầu văn hóa, tâm linh tạo ra điểm tham quan di tích lịch sử- văn hóa, danh lam thắng cảnh lễ hội đền Bạch Mã tôn vinh giá trị thiêng liêng, vừa thỏa mãn nhu cầu văn hóa tỉnh thần của nhân dân, góp phần thắt chặt quan hệ xã hội - Là một hình thức sinh hoạt tổng hợp, lễ hội cấu thành hai yếu tố, tương ứng với mặt tinh thần, tôn giáo, tín ngưỡng, linh thiêng, hai yếu tổ lễ và hội gắn bó, hòa quyện với nhau mà không làm thân - Lễ hội đền Bạch Mã hướng con người tới cái “thiêng”, gan bó người ta lại với nhau, có sức lôi cuốn, hấp dẫn các tầng lớp xã hội, trở thành nhu cầu khát vọng của nhân dân. Khái niệm Trong Từ điển Tiếng Việt do Viên Khoa học Xã hội Việt Nam, Viện Ngôn Ngữ học thì “du lịch là đi xa cho biết xứ lạ khác với nơi mình ở” [32].
Khái niệm du lịch trong Luật Du lịch Việt Nam năm 2005 được nêu ra như sau: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm thảo mãn, đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một thời gian nhất đỉnh” [16, tr. Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (World Tourist Organization), một tổ chức thuộc Liên Hiệp Quốc, Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du hành, tạm trú, trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư; nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền. Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hắn nơi định cư. Các quan niệm về du lịch đã bao quát các yếu tố liên quan đến nhu cầu con người trong hoạt động du lịch.
Nó tác động trực tiếp đến hệ thống các thiết chế văn hóa có liên quan để đáp ứng nhu cầu du lịch của con người như hệ thống các di tích lịch sử văn hóa, hệ thống công viên, vườn bách thảo, bảo tàng. để đáp ứng nhu cầu tham quan, giải trí nghỉ dưỡng, tìm hiểu khám phá văn hóa của con người. Căn cứ vào mục đích, nhu cầu của từng chuyến tham quan du lịch, có thể chia ra nhiều loại hình du lịch khác nhau: Du lịch thiên nhiên là loại hình du lich mà mối quan tâm chủ yếu của người đi du lịch là thích tận hưởng bầu không khí ngoài trời, tận hưởng và thưởng thức phong cảnh thiên nhiên núi rừng, song hồ, biển đảo và hệ thống thực vật hoang dã như rừng Cúc Phương, Biển Cửa Lò, Nha Trang. Du lịch văn hóa là loại hình du lịch mà mối quan tâm chủ yếu của con người là tìm hiểu khai thác những giá trị văn hóa tiêu biểu, tìm hiểu truyền thống lịch sử, các phong tục tập quán, các lễ hội truyền thống, các nền văn hóa nghệ thuật của nơi đến đi du lịch.
Cụ thể như Thánh địa Mỹ sơn, phố cô Hội An, các lễ hội tiêu biểu như lễ hội cùa Hương, lễ hội đền Hùng. Du lịch xã hội là loại hình mà đối với ho sự tiếp xúc giao lưu với những người khác là yếu tố quan trong của chuyến đi, nó gần với loại hình du lịch văn hóa vì mục tiêu cuối cùng của họ là thông qua giao tiếp dé hiểu biết khám phá thêm các yêu tô văn hóa và đời sông xã hội. 18 Du lịch giải trí là loại hình du lịch thu hút những người mà lý do của họ trong chuyến đi là sự hưởng thụ và tận hưởng kỳ nghỉ. Loại hình này gan với du lịch thiên nhiên.
Du lịch tôn giáo là loại hình du lịch nhằm thỏa mãn nhu cầu tín ngưỡng đặc biệt của những người theo đạo phái khác nhau, họ đến nơi có ý nghĩa tâm linh hay vị trí tôn giáo được tôn kính. Ngoài ra còn có các loại hình khác như du lịch hoạt động, du lịch thể thao, du lịch sức khỏe.