Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG 1. Khái luận về phát triển du lịch bền vững 1. Khái niệm phát triển bền vững và du lịch bền vững * Khái niệm phát triển bền vững Khái niệm "Phát triển bền vững" xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong ấn phẩm “Chiến lược bảo tồn Thế giới” (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế - IUCN) với nội dung rất đơn giản: "Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học". Báo cáo này ghi rõ: Phát triển bền vững là "sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai.”[2] Phát triển bền vững là sự phát triển thoả mãn những nhu cầu của hiện tại và không phương hại tới khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai.
Đó là quá trình phát triển kinh tế dựa vào nguồn tài nguyên được tái tạo, tôn trọng những quá trình sinh thái cơ bản, sự đa dạng sinh học và những hệ thống trợ giúp tự nhiên đối với cuộc sống của con người, động vật và thực vật. Qua các bản tuyên bố quan trọng, khái niệm này tiếp tục mở rộng thêm 5 và nội hàm của nó không chỉ dừng lại ở nhân tố sinh thái mà còn đi vào các 6 nhân tố xã hội, con người, nó hàm chứa sự bình đẳng giữa những nước giàu và nghèo, và giữa các thế hệ. Thậm chí nó còn bao hàm sự cần thiết giải trừ quân bị, coi đây là điều kiện tiên quyết nhằm giải phóng nguồn tài chính cần thiết để áp dụng khái niệm phát triển bền vững. Khái niệm “Phát triển bền vững” được biết đến ở Việt Nam vào những năm cuối thập niên 80 đầu thập niên 90.
Nó nhanh chóng nhận được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, điều đó được thể hiện thông qua hàng loạt các văn bản chính sách có tính định hướng chiến lược như: “Kế hoạch quốc gia về môi trường và phát triển bền vững”, đây là văn bản tạo tiền đề cho quá trình phát triển bền vững ở nước ta. Quan điểm phát triển bền vững được khẳng định lại trong chỉ thị số 36-CT/TW ngày 25 tháng 6 năm 1998 của Bộ Chính Trị về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, chỉ thị nhấn mạnh “Bảo vệ môi trường là nội dung cơ bản không thể tách rời trong đường lối chủ trương và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của các cấp các ngành, là cơ sở để đảm bảo phát triển bền vững, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”. Quan điểm phát triển bền vững lại được tái khẳng định trong văn kiện Đại hội IX của Đảng và trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2001 – 2010 là: “Phát triển nhanh, bền vững và hiệu quả. Tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường” và “Phát triển kinh tế gắn chặt với bảo vệ và cải thiện môi trường, bảo đảm sự hài hòa giữa môi trường nhân tạo với môi trường thiên nhiên, giữ gìn đa dạng sinh học”.
Phát triển bền vững trở thành quan điểm đường lối của Đảng và Nhà nước. Để thực hiện mục tiêu phát triển bền vững nhiều chỉ thị, nghị quyết của Đảng và văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước đã được ban hành, triển khai thực hiện, nhiều công trình nghiên cứu đã được triển khai và bước đầu thu được kết quả bước đầu. Nhiều nội dung cơ bản về phát triển bền vững đã đi vào cuộc sống và dần trở thành xu thế tất yếu trong sự phát triển của đất nước. 7 Để thực hiện mục tiêu phát triển bền vững đất nước, Chính phủ đã ban hành “Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam” trong đó đề ra các nguyên tắc cơ bản cho sự phát triển bền vững: Thứ nhất, con người là trung tâm của phát triển bền vững, đáp ứng nhu cầu đầy đủ về vật chất lẫn tinh thần cho nhân dân xây dựng dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh, là nguyên tắc quán triệt nhất quán trong quá trình triển.
Thứ hai, coi phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm của giai đoạn phát triển sắp tới. Đảm bảo an ninh lương thực, an ninh năng lượng cho phát triển bền vững. Đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cho nhân dân. Kết hợp chặt chẽ, hài hòa, hợp lý với phát triển xã hội.
Khai thác hợp lí, sử dụng tiết kiệm hiệu quả tài nguyên thiên nhiên trong giới hạn cho phép về mặt sinh thái và bảo vệ môi trường lâu bền. Từng bước thực hiện nguyên tắc “ Mọi mặt”: Kinh tế, xã hội và môi trường đều có lợi. Thứ ba, bảo vệ và cải thiện môi trường phải được coi là yếu tố không thể tách rời của phát triển. Tích cực chủ động phòng ngừa những tác động xấu với môi trường do hoạt động của con người gây ra.
Cần áp dụng nguyên tắc người gây thiệt hại đối với tài nguyên và môi trường phải bồi thường. Xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ và có hiệu lực về bảo vệ môi trường; Chủ động gắn kết và có chế tài bắt buộc, lồng ghép yêu cầu bảo vệ môi trường trong việc lập quy hoạch, kế hoạch, chương trình và dự án phát triển kinh tế xã hội, coi yêu cầu bảo vệ môi trường là một tiêu chí quan trọng trong phát triển bền vững. Thứ tư, quá trình phát triển phải đảm bảo đáp ứng một cách công bằng đối với thế hệ hiện tại mà không gây tổn hại đối vớ các thế hệ tương lai. Tạo điều kiện để mọi người và mọi cộng đồng trong xã hội có cơ hội bình đẳng để phát triển, được tiếp cận với nguồn lực chung và được phân phối một cách công bằng lợi ích công cộng, tạo ra những nền tảng vật chất , tri thức, văn hóa tốt đẹp cho các thế hệ mai sau.
Sử dụng tiết kiệm tài nguyên không thể tái tạo 8 được, gìn giữ và bảo vệ môi trường sống. Phát triển hệ thống “sản xuất sạch” thân thiện với môi trường, xây dựng lối sống lành mạnh, hài hòa, gần gũi và yêu quí thiên nhiên. Thứ năm, khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững đất nước. Công nghiệp hiện đại, sạch và thân thiện với môi trường được ưu tiên sử dụng trong các ngành sản xuất có tác dụng lan truyền mạnh và có khả năng thúc đẩy sự phát triển của nhiều ngành và lĩnh vực sản xuất khác.
Thứ sáu, phát triển bền vững là sự nghiệp của toàn Đảng, các cấp chính quyền các bộ ngành, địa phương, các cộng đồng dân cư và mọi người dân. Phải huy động tối đa sự tham gia của mọi người có liên quan trong việc lựa chọn các quyết định về phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường ở địa phương và trên quy mô cả nước. Bảo đảm cho nhân dân có khả năng tiếp cận thông tin và nâng cao vai trò của các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là phụ nữ, thanh niên, đồng bào dân tộc thiểu số trong việc đóng góp vào quá trình ra quyết định về các dự án đầu tư phát triển lớn vá lâu dài của đất nước. Thứ bảy, gắn chặt việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển bền vững đất nước.
Phát triển quan hệ song phương và đa phương thực hiện các cam kết quốc tế và khu vực, tiếp thu có chọn lọc những tiến bộ khoa học công nghệ , tăng cường hợp tác quốc tế để phát triển bền vững. Chú trọng phát huy lợi thế , nâng cao chất lượng hiệu quả, năng lực cạnh tranh, chủ động phòng ngừa những tác động xấu với môi trường do quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế gây nên. Thứ tám, kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường với bảo đảm quốc phòng an ninh, trật tự an toàn xã hội.[3] *Khái niệm du lịch bền vững Vào đầu thập niên 80 của thế kỷ XX, trên thế giới xuất hiện những cảnh báo đầu tiên về sự suy thoái môi trường do hoạt động du lịch gây ra, các 8 nhà khoa học đã dùng khái niệm “ du lịch rắn”(Hard tourism) để chỉ các hoạt động du lịch ồ ạt, không được quy hoạch hợp lí. Khái niệm “du lịch mềm” (Soft tourism) chỉ một chiến lược du lịch mới tôn trọng tài nguyên môi trường.
Năm 1996 xuất hiện khái niệm “ du lịch bền vững “ ( Sustainable) do Hội đồng Du lịch và Lữ hành quốc tế đưa ra trên cơ sở phát triển của khái niệm “du lịch mềm”, nhưng có nội dung rộng hơn không chỉ dừng lại bảo vệ môi trường mà còn phát triển bền vững về kinh tế, văn hóa và xã hội. Khái niệm du lịch bền vững do Hội đồng Du lịch và Lữ hành quốc tế đưa ra có nội dung: “Du lịch bền vững là sự đáp ứng các nhu cầu hiện tại của du khách và vùng du lịch mà vẫn đảm bảo những khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịch cho thế hệ tương lai”.[28] Du lịch bền vững và du lịch đại chúng có sự khác biệt. Du lịch đại chúng không được lập kế hoạch hợp lí cho việc nâng cao công tác bảo tồn hoặc công tác giáo dục, không mang lại những lợi ích cho cộng đồng địa phương và có thể phá huỷ nhanh chóng các môi trường nhạy cảm. Kết quả là 9 có thể phá hủy hoặc làm thay đổi một cách không thể nhận ra được các nguồn lợi tự nhiên và văn hoá mà chúng phụ thuộc vào.
Ngược lại, Du lịch bền vững thì được lập kế hoạch một cách cẩn thận từ lúc bắt đầu để mang lại những lợi ích cho cộng đồng địa phương, tôn trọng văn hoá, bảo tồn nguồn lợi tự nhiên. Giáo dục du khách và cả cộng đồng địa phương. Du lịch bền vững có thể tạo ra một lợi tức tương tự như du lịch đại chúng, nhưng có nhiều lợi ích được nằm lại với cộng đồng địa phương và các nguồn lợi tự nhiên, các giá trị văn hoá của vùng được bảo vệ.