Tổng quan nghiên cứu

Huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La sở hữu tiềm năng du lịch sinh thái và văn hóa đặc sắc với hơn 10.000 ha mặt nước thuộc vùng lòng hồ thủy điện Sơn La cùng 60 hòn đảo lớn nhỏ, được ví như biểu tượng kỳ vĩ của vùng Tây Bắc. Địa phương còn nổi bật với công trình cầu Pá Uôn có trụ cầu cao nhất Việt Nam, đỉnh núi Khau Pùm cao 1.823 m, nguồn suối khoáng nóng Mường Chiên và cụm di tích tâm linh Đền Linh Sơn Thủy Từ - Đền Nàng Han. Mặc dù tốc độ tăng trưởng lượng khách du lịch giai đoạn 2017 - 2019 đạt mức bình quân ấn tượng 35,4%/năm, hoạt động khai thác du lịch tại địa phương vẫn mang tính tự phát, sản phẩm dịch vụ còn đơn điệu và chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý kinh tế của tác giả Nguyễn Văn Hùng, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Thị Minh Hiền tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam, được thực hiện nhằm giải quyết bài toán phát triển bền vững ngành du lịch địa phương. Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là hệ thống hóa cơ sở lý luận, đánh giá toàn diện thực trạng hoạt động du lịch tại 11 đơn vị hành chính trên tổng diện tích 105.600 ha của huyện Quỳnh Nhai trong giai đoạn 2017 - 2019, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp khả thi cho giai đoạn 2020 - 2025 và định hướng đến năm 2030.

Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương, nâng cao thu nhập cho 14.500 hộ dân với hơn 65.400 nhân khẩu, đặc biệt khi đồng bào dân tộc Thái chiếm tới 83,35% dân số và tỷ lệ lao động nông nghiệp còn ở mức cao 86,2% vào năm 2019. Kết quả nghiên cứu đóng vai trò luận cứ khoa học then chốt giúp các nhà quản lý hoàn thiện cơ chế chính sách, phấn đấu nâng tổng thu du lịch vượt mức 50,7 tỷ đồng đã ghi nhận trong năm 2019.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng lý thuyết phát triển kinh tế vùng kết hợp lý thuyết phát triển du lịch bền vững. Luận văn vận dụng quan điểm của Tổ chức Du lịch Thế giới và Luật Du lịch Việt Nam năm 2017 nhằm chuẩn hóa các thuật ngữ cốt lõi:

  • Phát triển du lịch: Quá trình mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng dịch vụ, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và gia tăng mức độ đóng góp của ngành du lịch vào thu ngân sách, đồng thời đảm bảo bảo tồn môi trường sinh thái và bản sắc văn hóa bản địa.
  • Tài nguyên du lịch: Toàn bộ cảnh quan thiên nhiên tự nhiên (địa hình lòng hồ, hệ thống đảo, khí hậu nhiệt đới gió mùa có nhiệt độ trung bình 24,5 - 28,5°C) và tài nguyên nhân văn (lễ hội, ẩm thực, phong tục tập quán dân tộc Thái, Kháng, La Ha).
  • Sản phẩm du lịch: Sự kết hợp hài hòa giữa tài nguyên du lịch, cơ sở vật chất kỹ thuật và nguồn nhân lực phục vụ nhằm mang đến trải nghiệm trọn vẹn và sự hài lòng cho du khách.
  • Khách du lịch: Người thực hiện chuyến đi ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 1 năm liên tục vì mục đích tham quan, nghỉ dưỡng, trải nghiệm văn hóa hoặc tâm linh.

Khung phân tích của đề tài tiếp cận theo mô hình ba trụ cột tạo thành sản phẩm du lịch gồm: Tài nguyên du lịch - Hạ tầng kỹ thuật phụ trợ - Nguồn nhân lực du lịch. Đồng thời, mô hình nghiên cứu kết hợp khảo sát 4 nhóm nhân tố tác động chính: Thể chế chính sách; Năng lực quản lý nhà nước; Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp; Sự phối hợp liên ngành và mức độ tham gia của cộng đồng dân cư.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu đa tầng được thu thập trong khung thời gian từ tháng 8/2019 đến tháng 8/2020. Dữ liệu thứ cấp phản ánh các chỉ tiêu kinh tế - xã hội giai đoạn 2017 - 2019 được tổng hợp từ Niên giám thống kê huyện Quỳnh Nhai, báo cáo của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Sơn La cùng 24 tài liệu chuyên khảo trong và ngoài nước.

Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát thực địa với tổng quy mô mẫu là 185 đối tượng, bao gồm:

  • 120 khách du lịch nội địa và quốc tế trải nghiệm tại các điểm đến trên địa bàn huyện.
  • 45 đại diện doanh nghiệp, hợp tác xã du lịch sinh thái và các hộ gia đình trực tiếp kinh doanh dịch vụ du lịch.
  • 20 cán bộ phụ trách công tác quản lý nhà nước về văn hóa, du lịch và kinh tế cấp huyện, xã.

Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp ngẫu nhiên thuận tiện được áp dụng tại các địa bàn trọng điểm như xã Mường Giàng, Chiềng Bằng và Chiềng Ơn. Phương pháp này đảm bảo tính đại diện cao, phản ánh chân thực góc nhìn của cả chủ thể quản lý, đơn vị cung ứng và người thụ hưởng dịch vụ.

Các công cụ xử lý số liệu bao gồm: Thống kê mô tả (Descriptive Statistics) nhằm đo lường tần suất và giá trị trung bình; Phân tích so sánh định lượng chuỗi thời gian giai đoạn 2017 - 2019; Phân tích ma trận điểm mạnh - điểm yếu - cơ hội - thách thức (SWOT); Phương pháp chuyên gia nhằm tham vấn ý kiến từ các nhà khoa học và nhà quản lý giàu kinh nghiệm. Việc kết hợp các phương pháp định lượng và định tính giúp tăng độ tin cậy khoa học và tính chuẩn xác của các phát hiện nghiên cứu.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu đã chỉ ra bức tranh thực trạng phát triển du lịch tại huyện Quỳnh Nhai qua các chỉ số định lượng cụ thể:

Thứ nhất, lượng khách và doanh thu du lịch ghi nhận mức tăng trưởng vượt bậc nhưng cơ cấu nguồn thu chưa cân đối. Tốc độ tăng trưởng lượng khách du lịch bình quân đạt 35,4%/năm trong giai đoạn 2017 - 2019. Tổng doanh thu từ hoạt động du lịch năm 2019 đạt 50,7 tỷ đồng. Trong cơ cấu doanh thu, nguồn thu từ khách nội địa chiếm tỷ trọng áp đảo với 38,1 tỷ đồng (tương đương 75,15%), trong khi doanh thu từ khách quốc tế chỉ đạt 12,6 tỷ đồng (chiếm 24,85%).

Thứ hai, quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động gắn với dịch vụ du lịch đã bắt đầu diễn ra nhưng tốc độ còn chậm. Tổng số lao động trong độ tuổi có khả năng lao động năm 2019 toàn huyện là 36.520 người. Tỷ lệ lao động trong khối ngành phi nông nghiệp tăng nhẹ từ 13,3% năm 2017 lên 13,8% năm 2019, trong khi lao động nông nghiệp vẫn chiếm tới 86,2%. Riêng trong năm 2019, huyện đã mở 7 lớp đào tạo nghề cho 210 lao động nông thôn và 3 lớp với 178 học viên về nuôi trồng, đánh bắt thủy sản gắn với dịch vụ du lịch.

Thứ ba, sự thiếu hụt nghiêm trọng về hạ tầng lưu trú và dịch vụ bổ trợ chất lượng cao. Mặc dù hạ tầng giao thông đường bộ có trục Quốc lộ 279 rộng 17 m và Quốc lộ 6B rộng 35 m đi qua khu trung tâm, toàn huyện chỉ có 3 điểm bãi đỗ xe tĩnh và chưa có hệ thống bến thuyền du lịch đạt chuẩn an toàn đường thủy nội địa. Thời gian lưu trú của khách du lịch phần lớn chỉ dao động từ 1 đến 1,5 ngày, mức chi tiêu bình quân ước tính chỉ đạt khoảng 350.000 - 500.000 đồng/khách/ngày do thiếu các dịch vụ vui chơi giải trí về đêm.

Thứ tư, biến động sử dụng quỹ đất cho thấy dư địa phát triển hạ tầng du lịch còn rất lớn. Đến năm 2019, đất nông nghiệp chiếm 61,17% (64.596,43 ha), đất phi nông nghiệp chỉ chiếm 12,39% (13.083,24 ha), trong khi đất chưa sử dụng còn tới 27.920,33 ha (chiếm 26,44% tổng diện tích tự nhiên). Đây là nguồn lực đất đai dồi dào có thể quy hoạch chuyển đổi sang mục đích phát triển các khu nghỉ dưỡng và tổ hợp dịch vụ du lịch sinh thái lòng hồ.

Thảo luận kết quả

Kết quả nghiên cứu phản ánh sự mâu thuẫn rõ rệt giữa tiềm năng tài nguyên thiên nhiên phong phú và trình độ khai thác kinh tế du lịch còn ở mức sơ khai. Nguyên nhân cốt lõi xuất phát từ việc công tác lập quy hoạch du lịch chưa bám sát nhu cầu thị trường, ngân sách đầu tư công cho hạ tầng du lịch còn phân tán và kỹ năng tiếp thị số của các đơn vị kinh doanh còn yếu kém.

Khi đối chiếu với các địa phương lân cận, huyện Mộc Châu (Sơn La) đã hình thành Khu du lịch quốc gia với 150 cơ sở lưu trú, quy mô 1.749 giường và đón hơn 1 triệu lượt khách/năm, mang lại mức chi tiêu bình quân 20 - 25 USD/khách/ngày. Tương tự, huyện Lâm Bình (Tuyên Quang) với mô hình 15 hộ dân thí điểm làm homestay tại 4 điểm du lịch đã giúp địa phương đón trên 100.000 lượt khách và giảm tỷ lệ hộ nghèo hơn 5,5% sau 2 năm triển khai. Điều này cho thấy Quỳnh Nhai hoàn toàn có thể bứt phá nếu xây dựng được chuỗi giá trị du lịch cộng đồng bài bản.

Dữ liệu của đề tài có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ cơ cấu nguồn thu du lịch (phản ánh khoảng cách giữa khách nội địa 75,15% và khách quốc tế 24,85%) cùng bảng ma trận SWOT nhằm làm nổi bật lợi thế 10.000 ha mặt nước hồ thủy điện đối lập với điểm nghẽn thiếu hụt bến bãi và nguồn nhân lực. Nghiên cứu khẳng định du lịch chính là đòn bẩy quan trọng thúc đẩy chuyển dịch sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số tại các điểm tái định cư thủy điện Sơn La.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm hiện thực hóa mục tiêu đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, luận văn đề xuất hệ thống 5 nhóm giải pháp chiến lược:

  1. Đổi mới và phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển du lịch: UBND huyện Quỳnh Nhai cần phối hợp với Sở Xây dựng và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Sơn La rà soát, hoàn thiện Đề án Quy hoạch chi tiết khu du lịch lòng hồ 10.000 ha và quần thể di tích Đền Linh Sơn Thủy Từ - Nàng Han tầm nhìn 2030. Hoàn thành phê duyệt phân khu chức năng trước năm 2023 nhằm thu hút các nhà đầu tư chiến lược.
  2. Nâng cấp đồng bộ cơ sở hạ tầng kỹ thuật và giao thông bến thủy: Ưu tiên nguồn vốn đầu tư công kết hợp mô hình hợp tác công tư (PPP) để xây dựng 3 bến tàu du lịch tiêu chuẩn tại xã Chiềng Bằng, Mường Giàng và Chiềng Ơn trong giai đoạn 2021 - 2025. Nâng cấp các tuyến đường nhánh kết nối Quốc lộ 279 và Quốc lộ 6B, mục tiêu nâng công suất tiếp đón lên trên 150.000 lượt khách/năm vào năm 2025.
  3. Phát triển và chuẩn hóa nguồn nhân lực du lịch bản địa: Phòng Văn hóa và Thông tin huyện chủ trì, phối hợp cùng các cơ sở đào tạo nghề tổ chức tối thiểu 12 khóa tập huấn nghiệp vụ du lịch, kỹ năng phục vụ buồng bàn và ngoại ngữ cho 600 lao động tại các hợp tác xã và hộ kinh doanh giai đoạn 2021 - 2024, phấn đấu đạt tỷ lệ 70% lao động du lịch qua đào tạo chuyên môn.
  4. Đa dạng hóa sản phẩm du lịch đặc thù và phát triển kinh tế ban đêm: Phát triển tuyến du lịch trải nghiệm đảo Trái Tim kết hợp tắm suối khoáng nóng bản Bon và tham quan văn hóa bản địa Thái. Xây dựng khu chợ đêm và không gian ẩm thực dân tộc tại trung tâm xã Mường Giàng trước năm 2024, hướng tới kéo dài thời gian lưu trú lên 2,5 ngày và nâng mức chi tiêu bình quân của du khách lên trên 1.000.000 đồng/ngày.
  5. Đẩy mạnh xúc tiến quảng bá số và nâng cao năng lực doanh nghiệp: Hiệp hội Du lịch tỉnh cùng UBND huyện hỗ trợ các doanh nghiệp số hóa 100% dữ liệu điểm đến trên nền tảng bản đồ số, xây dựng cổng thông tin du lịch thông minh đa ngôn ngữ (Việt - Anh), phấn đấu đưa tổng thu nhập du lịch toàn huyện đạt mốc 120 tỷ đồng vào năm 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:

  • Cơ quan quản lý nhà nước: Lãnh đạo UBND huyện Quỳnh Nhai, Phòng Văn hóa và Thông tin, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Sơn La sử dụng luận văn làm cơ sở khoa học để hoạch định chính sách, xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm và phân bổ vốn đầu tư công cho hạ tầng du lịch.
  • Doanh nghiệp lữ hành và nhà đầu tư du lịch: Các tập đoàn du lịch, công ty lữ hành và hợp tác xã sinh thái khai thác số liệu về 60 đảo lòng hồ và lưu lượng khách để đánh giá tính khả thi tài chính, thiết kế tour tuyến mới kết nối Hà Nội - Mộc Châu - Quỳnh Nhai - Điện Biên.
  • Cộng đồng dân cư và các hộ kinh doanh địa phương: Hơn 14.500 hộ gia đình tại Quỳnh Nhai, đặc biệt là các hộ vùng ven hồ, tham khảo các mô hình homestay, phương thức tiếp thị dịch vụ bản địa và quy chuẩn phục vụ du khách để chuyển đổi nghề nghiệp hiệu quả.
  • Giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành Quản lý kinh tế: Đề tài là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp khảo sát thực chứng 185 mẫu tại địa bàn tái định cư đặc thù, cung cấp khung lý thuyết hoàn chỉnh về phát triển du lịch gắn với tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn.

Câu hỏi thường gặp

Luận văn sử dụng phương pháp khảo sát nào và quy mô mẫu nghiên cứu là bao nhiêu?
Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp ngẫu nhiên thuận tiện với tổng quy mô 185 phiếu điều tra hợp lệ. Mẫu khảo sát bao gồm 120 khách du lịch, 45 đại diện doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ kinh doanh dịch vụ, cùng 20 cán bộ quản lý nhà nước tại 3 xã trọng điểm gồm Mường Giàng, Chiềng Bằng và Chiềng Ơn.

Tiềm năng nổi bật nhất để phát triển du lịch tại huyện Quỳnh Nhai là gì?
Quỳnh Nhai sở hữu hơn 10.000 ha mặt nước hồ thủy điện Sơn La với 60 đảo nổi hoang sơ, thắng cảnh Cầu Pá Uôn có trụ cầu cao nhất Việt Nam, suối khoáng nóng Mường Chiên, đỉnh Khau Pùm cao 1.823 m và nét văn hóa truyền thống đặc sắc của đồng bào dân tộc Thái chiếm tới 83,35% dân số toàn huyện.

Tình hình doanh thu và tốc độ tăng trưởng du lịch của Quỳnh Nhai trong giai đoạn nghiên cứu ra sao?
Trong giai đoạn 2017 - 2019, lượng khách du lịch đến huyện Quỳnh Nhai đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 35,4%/năm. Tổng doanh thu du lịch năm 2019 đạt 50,7 tỷ đồng, trong đó nguồn thu từ du khách nội địa chiếm 38,1 tỷ đồng (75,15%) và khách quốc tế đóng góp 12,6 tỷ đồng (24,85%).

Nút thắt lớn nhất kìm hãm sự phát triển du lịch tại địa phương được luận văn chỉ ra là gì?
Hạn chế lớn nhất là cơ sở hạ tầng du lịch thiếu đồng bộ, toàn huyện chưa có bến thủy nội địa đạt chuẩn, dịch vụ lưu trú quy mô nhỏ và thiếu các sản phẩm vui chơi giải trí về đêm. Điều này khiến thời gian lưu trú của khách rất ngắn (1 - 1,5 ngày) và mức chi tiêu bình quân còn thấp.

Bài học kinh nghiệm thực tiễn nào được tác giả đúc kết để áp dụng cho Quỳnh Nhai?
Luận văn đúc kết bài học từ Thái Lan về chương trình "Mỗi làng một sản phẩm" (OTOP) kết hợp du lịch homestay, kinh nghiệm quy hoạch dài hạn từ Singapore, bài học phát triển 150 cơ sở lưu trú tại Mộc Châu và mô hình liên kết 15 hộ dân làm du lịch cộng đồng giúp giảm nghèo tại Lâm Bình.

Kết luận

  • Hệ thống hóa hoàn chỉnh cơ sở lý luận về phát triển du lịch bền vững và bài học kinh nghiệm quốc tế từ Singapore, Thái Lan cũng như các địa phương trong nước như Mộc Châu, Lâm Bình.
  • Đánh giá xác thực bức tranh tăng trưởng du lịch Quỳnh Nhai giai đoạn 2017 - 2019 với mức tăng lượng khách 35,4%/năm và tổng doanh thu năm 2019 đạt 50,7 tỷ đồng trên nền tảng tài nguyên 10.000 ha mặt nước lòng hồ.
  • Nhận diện chính xác các điểm nghẽn về hạ tầng giao thông thủy, chất lượng nhân lực khi có tới 86,2% lao động thuộc khu vực nông nghiệp và năng lực doanh nghiệp còn hạn chế.
  • Xác lập khung giải pháp 5 nhóm đột phá gắn với mốc thời gian 2020 - 2025, định hướng mục tiêu doanh thu 120 tỷ đồng và đón 150.000 lượt khách vào năm 2025.
  • Đóng góp nguồn tư liệu khoa học thực chứng chất lượng cao cho công tác quản lý kinh tế và quy hoạch du lịch vùng Tây Bắc giai đoạn mới.

Kế hoạch triển khai giai đoạn 2021 - 2025 đòi hỏi sự vào cuộc quyết liệt của UBND huyện Quỳnh Nhai trong việc hoàn tất quy hoạch phân khu và xúc tiến đầu tư hạ tầng bến bãi. Các cơ quan quản lý, nhà đầu tư và nhà nghiên cứu quan tâm có thể khai thác toàn diện cơ sở dữ liệu chuyên sâu của luận văn để hiện thực hóa mục tiêu đưa Quỳnh Nhai trở thành trung tâm du lịch sinh thái lòng hồ kiểu mẫu của tỉnh Sơn La.