Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Du lịch Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mạnh trong bối cảnh kinh tế tăng trưởng và nhu cầu du lịch của người dân ngày càng cao. Tỉnh Hải Dương, nằm trong tam giác động lực tăng trưởng Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh và thuộc vùng du lịch Bắc Bộ, sở hữu nguồn tài nguyên du lịch phong phú bao gồm cả tài nguyên tự nhiên (hang động, khu sinh thái chim nước, mỏ nước khoáng Thạch Khôi) lẫn tài nguyên nhân văn (di tích lịch sử, lễ hội, làng nghề, ẩm thực đặc sản). Tuy nhiên, phần lớn các tài nguyên này vẫn ở dạng tiềm năng, chưa được khai thác và bảo tồn hiệu quả. Khi nhắc đến du lịch Hải Dương, du khách phần lớn chỉ biết đến Côn Sơn, Kiếp Bạc, Đảo Cò và sân gôn Chí Linh; các điểm du lịch này lại phát triển chủ yếu theo mục tiêu kinh tế, ít chú trọng bảo tồn và tôn tạo tài nguyên. Xuất phát từ thực trạng đó, tác giả Lê Thị Hà (sinh viên lớp VH903, Trường ĐHDL Hải Phòng) lựa chọn đề tài "Tài nguyên du lịch Hải Dương – vấn đề khai thác nhằm phát triển du lịch bền vững" cho khóa luận tốt nghiệp năm 2009.

Mục đích nghiên cứu:

  1. Nhìn nhận và đánh giá đúng thực trạng tài nguyên du lịch của Hải Dương, cung cấp cái nhìn toàn diện về nguồn tài nguyên phong phú và đa dạng của tỉnh.
  2. Vận dụng kiến thức chuyên ngành vào hoàn cảnh cụ thể của Hải Dương để đề xuất các giải pháp bảo tồn và khai thác hợp lý các tài nguyên.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Tìm hiểu các loại tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn ở Hải Dương trong việc khai thác vào phát triển du lịch.
  2. Đề xuất một số giải pháp bảo tồn, tôn tạo và khai thác tài nguyên hợp lý.

Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động khai thác tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn của tỉnh Hải Dương.

Phạm vi nghiên cứu: Toàn bộ tỉnh Hải Dương; tập trung đánh giá những mặt hạn chế trong hoạt động khai thác tài nguyên trong giai đoạn hiện nay (đến năm 2008–2009) nhằm đề xuất các giải pháp phù hợp.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và văn bản pháp lý:

Khóa luận xây dựng nền tảng lý luận dựa trên các khái niệm cốt lõi gồm: tài nguyên du lịch, bảo tồn thiên nhiên và du lịch bền vững. Định nghĩa tài nguyên du lịch được dẫn chiếu trực tiếp từ khoản 4 Điều 4 Chương I – Luật Du lịch Việt Nam năm 2005: "Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử văn hoá, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch." Khái niệm du lịch bền vững cũng được dẫn chiếu theo Luật Du lịch năm 2005 (Quốc hội khóa XI). Quan điểm của Piojnik về du lịch là ngành có "định hướng tài nguyên rõ rệt" được sử dụng như một luận điểm lý luận trung tâm để luận giải mối quan hệ giữa khai thác và bảo vệ tài nguyên.

Khóa luận phân loại tài nguyên du lịch thành hai nhóm lớn: tài nguyên du lịch tự nhiên (địa hình, địa chất, khí hậu, nước, sinh vật) và tài nguyên du lịch nhân văn (tài nguyên hữu thể như di tích lịch sử, di sản; tài nguyên vô thể như lễ hội, làng nghề, ẩm thực, nghệ thuật dân gian). Mười nguyên tắc cơ bản của phát triển du lịch bền vững được hệ thống hóa làm cơ sở đánh giá thực trạng và xây dựng kiến nghị.

Phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp thu thập và xử lý số liệu: Khai thác dữ liệu thống kê từ Sở Thương mại và Du lịch Hải Dương, Ban quản lý khu di tích Côn Sơn – Kiếp Bạc và các cơ quan chức năng trong tỉnh.
  • Phương pháp kiểm kê, đánh giá: Lập danh mục và đánh giá mức độ khai thác từng loại tài nguyên so với tiềm năng thực có.
  • Phương pháp điền dã: Khảo sát thực địa tại các điểm tài nguyên du lịch trên địa bàn tỉnh.

Nguồn dữ liệu: Báo cáo kết quả điều tra tài nguyên du lịch Hải Dương năm 2007 (Sở Thương mại và Du lịch); đề án khảo sát xây dựng tour du lịch đường sông năm 2006; số liệu thống kê khách du lịch và thu nhập du lịch giai đoạn 2001–2008; tài liệu từ Sở Văn hoá – Thể thao – Du lịch Hải Dương và Bảo tàng Hải Dương.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tài nguyên du lịch và vấn đề bảo tồn tài nguyên du lịch

Chương 1 xây dựng hệ thống lý luận nền tảng. Khóa luận làm rõ khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của tài nguyên du lịch; phân tích sáu đặc điểm cốt lõi của tài nguyên du lịch gồm: tính phong phú đa dạng, bao hàm cả giá trị hữu thể lẫn vô thể, dễ khai thác, có tính thời vụ, được khai thác tại chỗ, và có khả năng phục hồi nếu được bảo vệ đúng cách.

Phần lý thuyết về du lịch bền vững được triển khai qua mười nguyên tắc: (1) khai thác sử dụng tài nguyên hợp lý, không vượt quá sức chứa; (2) hạn chế sử dụng quá mức và giảm thiểu chất thải; (3) phát triển gắn với bảo tồn tính đa dạng sinh học và văn hoá; (4) phù hợp với quy hoạch tổng thể kinh tế – xã hội; (5) chia sẻ lợi ích với cộng đồng địa phương; (6) khuyến khích sự tham gia của cộng đồng; (7) thường xuyên trao đổi tham khảo ý kiến; (8) đào tạo nâng cao nhận thức về tài nguyên môi trường; (9) tăng cường tiếp thị có trách nhiệm; (10) thường xuyên tiến hành nghiên cứu khoa học.

Chương 1 cũng phân tích mối quan hệ biện chứng giữa khai thác và bảo vệ tài nguyên du lịch: khai thác có ý thức sẽ tạo nguồn thu để tái đầu tư bảo tồn, trong khi khai thác vì lợi ích trước mắt tất yếu dẫn đến suy thoái tài nguyên và làm suy giảm sức hút của điểm đến.

Chương 2: Thực trạng khai thác tài nguyên du lịch và phát triển du lịch bền vững ở Hải Dương

Chương 2 là phần trọng tâm của khóa luận, bao gồm ba nội dung chính.

Tiềm năng tài nguyên:

Tài nguyên tự nhiên của Hải Dương được phân tích theo các yếu tố địa hình, khí hậu, nguồn nước và sinh vật. Địa hình chia hai vùng: đồng bằng chiếm 89% diện tích và vùng đồi núi thấp (181,22 km², chiếm 11%) tập trung tại Chí Linh và Kim Môn. Đặc biệt, địa hình Karst ở khu Nhị Chiểu (32 hang động) và dãy núi Dương Nham (Kim Môn) tạo nên thắng cảnh Động Kính Chủ được xếp hạng "Nam thiên đệ lục động" với trên 40 văn bia từ thế kỷ 14 đến 20. Hệ thống sông ngòi gồm 700 km đường sông với 14 tuyến, trong đó 6 tuyến đủ điều kiện khai thác du lịch với tổng chiều dài 194,5 km. Rừng Chí Linh có diện tích 1.300 ha, xác định được 400 loài thực vật; làng cò vạc Chi Lăng Nam có hơn 5.000 con vạc và 15.000 con cò.

Theo báo cáo điều tra tài nguyên năm 2007 (Sở Thương mại và Du lịch), cảnh quan và di tích tự nhiên được kiểm kê gồm 16 điểm phân bố ở năm địa bàn:

STT Địa bàn Số điểm Tài nguyên tiêu biểu
1 TP. Hải Dương 3 Khu sinh thái Hải Hà, Đảo Ngọc, hồ Bạch Đằng
2 Huyện Chí Linh 5 Côn Sơn, Kiếp Bạc, núi Phượng Hoàng, Bến Tắm, rừng Thanh Mai
3 Huyện Kim Môn 6 Động Hàm Long, Tâm Long, hang Đốc Tít, khu đa dạng sinh học Áng Bác, Am Phụ, động Kính Chủ
4 Huyện Thanh Hà 1 Sinh thái vùng dọc sông Hương
5 Huyện Thanh Miện 1 Đảo Cò Chi Lăng

Tài nguyên nhân văn bao gồm 176 di tích lịch sử văn hoá có thể khai thác du lịch (trong tổng số khoảng 400 di tích), với 126 di tích được xếp hạng cấp quốc gia. Giai đoạn 1998–2009, 46 di tích được Bộ Văn hoá – Thông tin và 31 di tích được tỉnh cấp vốn tu bổ (chiếm 61,6% số di tích xếp hạng). Hải Dương có 731 lễ hội hàng năm, trong đó 50 lễ hội tiêu biểu có khả năng nâng cấp thành sản phẩm du lịch. Tỉnh có 35 nghề và làng nghề cổ truyền phân bố rộng khắp, nổi bật gồm chạm khắc gỗ Đông Giao, gốm sứ Chu Đậu, chạm khắc đá Kính Chủ (có từ thế kỷ 13), vàng bạc Châu Khê (xuất hiện từ thế kỷ 17), giầy dép da Tam Lâm (ra đời từ 5–6 thế kỷ trước).

Thực trạng hoạt động du lịch (2001–2008):

Khách du lịch tăng trưởng trung bình 27,1%/năm; khách lưu trú đạt 420.000 lượt năm 2008 (tăng 3,7 lần so với 2001). Tuy nhiên, khách lưu trú chỉ chiếm khoảng 20% tổng lượt khách, số ngày lưu trú trung bình đạt 1,3 ngày/lượt – phản ánh sức hút của sản phẩm du lịch còn hạn chế.

Chỉ tiêu 2001 2004 2006 2008 Tốc độ tăng TB (%/năm)
Khách lưu trú (nghìn lượt) 113 203 303 420 20,6
Khách không lưu trú (nghìn lượt) 241 517 797 1.480 29,6
Tổng thu nhập du lịch (tỷ đồng) 120 206 360 530 24,3

Cơ sở lưu trú tăng từ 33 cơ sở (650 phòng) năm 2001 lên 102 cơ sở (2.350 phòng) năm 2008; công suất sử dụng phòng đạt 60%. Toàn tỉnh có 3.000 lao động trực tiếp trong doanh nghiệp du lịch, trong đó 62,57% không biết ngoại ngữ và 59,97% chỉ có trình độ trung học phổ thông.

Tỷ lệ và mức độ khai thác tài nguyên:

STT Loại tài nguyên Tiềm năng Đã khai thác Tỷ lệ (%)
1 Di tích lịch sử văn hoá 400 176 44
2 Khu sinh thái 16 13 81
3 Hang động 5 1 20
4 Nguồn nước khoáng 1 0 0
5 Hồ nước (>30 ha) 5 0 0
6 Sông có tiềm năng du lịch 6 0 0
7 Làng nghề 33 5 14

Trong số tài nguyên đã khai thác, mức độ khai thác mạnh chỉ tập trung tại khu Côn Sơn – Kiếp Bạc (khách tăng trưởng 20%/năm giai đoạn 2001–2008, đạt trên 1 triệu lượt khách năm 2008). Phần lớn di tích lịch sử văn hoá (87,5%) và khu sinh thái (47%) chỉ được khai thác ở mức yếu.


Kết quả và đóng góp

Kết quả chính:

Khóa luận hệ thống hóa toàn bộ tiềm năng tài nguyên du lịch Hải Dương, phân tích định lượng mức độ khai thác và chỉ ra khoảng cách lớn giữa tiềm năng và thực tế khai thác. Thu nhập du lịch tăng bình quân 24,3%/năm (2001–2008), đạt 530 tỷ đồng năm 2008. Tổng vốn đầu tư theo quy hoạch 2003–2020 là 200 triệu USD (giai đoạn 2003–2010 là 65 triệu USD); vốn đầu tư thực tế của doanh nghiệp đã đạt trên 12.000 tỷ đồng; vốn đầu tư cơ sở hạ tầng du lịch đến năm 2008 khoảng 1.000 tỷ đồng. Tỉnh dự kiến đầu tư 1.270 tỷ đồng từ nay đến 2025 để tu bổ, tôn tạo khu di tích Côn Sơn – Kiếp Bạc.

Các hạn chế chính được xác định:

  • Nhận thức về quản lý bền vững tài nguyên du lịch còn hạn chế; quản lý chồng chéo giữa ngành văn hoá, du lịch và chính quyền địa phương.
  • Tình trạng khai thác đá, san lấp, lấn chiếm lòng hồ và xây dựng tràn lan trong các khu du lịch diễn ra khá phổ biến; điển hình là việc khai thác đá vôi ở Kim Môn phá hủy cảnh quan các di tích xung quanh động Hàm Long và hang Đốc Tít.
  • Môi trường sông Hương (Thanh Hà) bị ô nhiễm do nước thải sinh hoạt, chất thải từ khu công nghiệp Nam Sách và ý thức cộng đồng chưa cao.
  • Dịch vụ vui chơi giải trí nghèo nàn, chi tiêu của khách cho mảng này chỉ chiếm 10% tổng chi tiêu; thời gian lưu trú trung bình thấp (1,3 ngày).

Giải pháp và kiến nghị tác giả đề xuất (Chương 3):

Khóa luận đề xuất nhóm giải pháp tập trung vào: (1) tăng cường công tác quy hoạch và quản lý tài nguyên theo hướng bền vững; (2) bảo tồn và phục hồi các làng nghề truyền thống để biến thành điểm du lịch; (3) khôi phục các hình thức nghệ thuật dân gian đang có nguy cơ mai một (ca trù, hát đối, hát trống quân, rối nước); (4) phát triển du lịch đường sông theo 6 tuyến có tiềm năng với tổng chiều dài 194,5 km; (5) xây dựng chính sách chia sẻ lợi ích với cộng đồng địa phương; (6) đào tạo nâng cao chất lượng nhân lực du lịch, đặc biệt về ngoại ngữ (hiện có 62,57% lao động không biết ngoại ngữ).

Đóng góp so với nghiên cứu trước: Khóa luận tổng hợp lần đầu tiên một bức tranh toàn diện về tỷ lệ khai thác so với tiềm năng của từng loại tài nguyên du lịch Hải Dương trên cơ sở số liệu điều tra năm 2007 của Sở Thương mại và Du lịch, đồng thời liên hệ trực tiếp thực trạng khai thác với các nguyên tắc phát triển bền vững được quy định trong Luật Du lịch 2005.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Tác giả thừa nhận trong phần mở đầu rằng nguồn tài liệu mang tính cập nhật chưa phong phú, còn tản mạn; kiến thức lý luận và thực tế của người viết còn hạn chế, nên nội dung đánh giá chỉ tập trung vào những mặt hạn chế trong giai đoạn khai thác hiện tại thay vì phân tích toàn diện mọi khía cạnh. Phạm vi nghiên cứu giới hạn trong địa bàn tỉnh Hải Dương, chưa có điều kiện so sánh chuyên sâu với các tỉnh trong vùng Bắc Bộ để xác định lợi thế cạnh tranh đặc thù.

Từ phạm vi đề tài, các hướng nghiên cứu tiếp theo có thể bao gồm: đánh giá sức chứa cụ thể của từng điểm tài nguyên; nghiên cứu thị trường khách quốc tế để xây dựng chiến lược sản phẩm phù hợp; đánh giá tác động môi trường của hoạt động du lịch tại các khu vực có hệ sinh thái nhạy cảm như Đảo Cò Chi Lăng và khu đa dạng sinh học Áng Bác.


Giá trị tham khảo

Khóa luận phù hợp để tham khảo cho các nhóm đối tượng sau:

  • Sinh viên ngành Văn hoá – Du lịch, Địa lý du lịch và Quản lý tài nguyên: Chương 1 cung cấp hệ thống lý luận cô đọng về tài nguyên du lịch và các nguyên tắc phát triển bền vững theo Luật Du lịch 2005; phù hợp làm tài liệu tham khảo cho các học phần lý luận du lịch.
  • Sinh viên và nhà nghiên cứu thực hiện đề tài về du lịch vùng Bắc Bộ: Phần kiểm kê tài nguyên theo bảng tổng hợp (Bảng 3, 4, 7) và chuỗi số liệu khách, thu nhập giai đoạn 2001–2008 (Bảng 5, 6) là nguồn tư liệu thứ cấp có giá trị cho các nghiên cứu so sánh hoặc phân tích xu hướng.
  • Người làm đề tài về du lịch sinh thái hoặc du lịch văn hoá tại các tỉnh đồng bằng: Cách tiếp cận phân tích song song tài nguyên tự nhiên và nhân văn, kết hợp đánh giá mức độ khai thác bằng tỷ lệ phần trăm, có thể áp dụng làm khung phân tích cho các địa phương tương đồng.
  • Cán bộ quản lý du lịch địa phương: Chương 3 tập hợp các kiến nghị cụ thể về bảo tồn làng nghề, phát triển tuyến du lịch đường sông và cơ chế chia sẻ lợi ích cộng đồng có thể là gợi ý chính sách.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ khai thác tài nguyên du lịch của Hải Dương so với tiềm năng thực tế như thế nào? Theo số liệu điều tra năm 2007 được khóa luận tổng hợp, tỷ lệ khai thác rất không đồng đều: khu sinh thái đạt 81%, di tích lịch sử văn hoá đạt 44%, hang động chỉ đạt 20%, làng nghề đạt 14%; trong khi nguồn nước khoáng Thạch Khôi, các hồ nước lớn (trên 30 ha) và 6 tuyến sông có tiềm năng du lịch đều chưa được khai thác (tỷ lệ 0%).

2. Khu di tích Côn Sơn – Kiếp Bạc có quy mô hoạt động du lịch như thế nào tính đến thời điểm khóa luận? Theo thống kê của Ban quản lý khu di tích, lượng khách tăng trưởng 20%/năm trong giai đoạn 2001–2008, đạt trên 1 triệu lượt khách năm 2008. Đây là điểm du lịch duy nhất ở Hải Dương được đánh giá là khai thác ở mức "mạnh". Tỉnh dự kiến đầu tư 1.270 tỷ đồng đến năm 2025 để tu bổ, tôn tạo và khảo cổ tại khu này.

3. Thực trạng nhân lực du lịch Hải Dương có những điểm yếu nổi bật nào? Hải Dương có 3.000 lao động trực tiếp trong doanh nghiệp du lịch; tuy nhiên 59,97% chỉ có trình độ trung học phổ thông, 62,57% không biết ngoại ngữ. Lao động có trình độ đại học và trên đại học chỉ chiếm 12,3%. Đây được xác định là một trong những nguyên nhân cản trở thu hút khách quốc tế và nâng cao chất lượng sản phẩm.

4. Những tài nguyên văn hoá phi vật thể nào ở Hải Dương đang có nguy cơ mai một? Khóa luận chỉ ra rằng ca trù, hát đối (Gia Xuyên – Gia Lộc), hát trống quân (Tào Khê – Bình Giang) và rối nước đang đứng trước nguy cơ mai một lớn do các nghệ nhân cao tuổi, cuộc sống khó khăn, thiếu thế hệ kế cận. Tỉnh chưa có chính sách và cơ chế cụ thể để tôn vinh nghệ nhân và hỗ trợ chuyển giao di sản văn hoá.

5. Vì sao thời gian lưu trú của khách du lịch tại Hải Dương còn ngắn và khách quốc tế không ổn định? Khóa luận xác định hai nguyên nhân chính: (1) sản phẩm du lịch chưa đủ sức hấp dẫn để giữ chân khách qua đêm, đặc biệt thiếu dịch vụ vui chơi giải trí (chi tiêu của khách cho mảng này chỉ chiếm 10%); (2) vị trí địa lý gần Hà Nội (cách 57 km) khiến khách có xu hướng về Hà Nội nghỉ thay vì lưu trú tại Hải Dương. Khách quốc tế đến chủ yếu là khách khảo sát đầu tư, khách tổ chức phi chính phủ, khách golf và Việt kiều về thăm thân – không phải khách du lịch thuần túy.


Kết luận

Khóa luận của Lê Thị Hà (2009) cung cấp một khảo sát có hệ thống về tiềm năng và thực trạng khai thác tài nguyên du lịch tỉnh Hải Dương, làm rõ khoảng cách lớn giữa nguồn tài nguyên phong phú và mức độ khai thác còn thấp – đặc biệt đối với làng nghề (14%), hang động (20%) và các tài nguyên nước chưa được khai thác. Khóa luận khẳng định mối quan hệ biện chứng giữa khai thác và bảo tồn tài nguyên như điều kiện tất yếu để du lịch Hải Dương phát triển bền vững, đồng thời chỉ ra các bất cập trong quản lý chồng chéo, ô nhiễm môi trường và mai một di sản văn hoá phi vật thể. Các kiến nghị tập trung vào hoàn thiện quy hoạch, phục hồi làng nghề và nghệ thuật dân gian, phát triển tuyến du lịch đường sông và nâng cao chất lượng nhân lực được đặt trong khung pháp lý của Luật Du lịch 2005, có tính thực tiễn cho bối cảnh quản lý du lịch cấp tỉnh giai đoạn 2009–2020.