CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Thuyết quản lý theo khoa học của F.Taylor đang được truyền bá rộng rãi từ Mỹ sang châu Âu với ảnh hưởng lớn suốt nửa đầu thế kỷ XX, thì ở Pháp xuất hiện một thuyết mới thu hút sự chú ý - Henri Fayol (1841 – 1915). Ông đã tiếp cận vấn đề quản lý ở tầm rộng hơn và xem xét dưới góc độ tổ chức - hành chính. Với thuyết này, ông đã được coi là người đặt nền móng cho lý luận quản lý cổ điển, là “một Taylor của châu Âu” và là “người cha thực sự của lý thuyết quản lý hiện đại”.
Qua đó, ông xác định nội hàm quản lý gồm 5 chức năng cơ bản sau: lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp và kiểm tra. Theo ông, người quản lí có đủ phẩm chất và năng lực kết hợp nhuần nhuyễn với các chức năng thì thực hiện được mục tiêu quản lí, mục tiêu của tổ chức đạt hiệu quả. Những năm cuối thập niên 60 của thế kỉ XX, khi các khái niệm “vốn con người” (Human Capital), “nguồn lực con người” (Human Resources) xuất hiện ở Hoa Kì, sau đó thịnh hành trên thế giới thì vấn đề phát triển đội ngũ cán bộ quản lí cũng được giải quyết với tư cách là phát triển một nguồn lực thuộc ngành, lĩnh vực. Tuy nhiên, nội dung và cách giải quyết vấn để có sự khác nhau, phụ thuộc vào điều kiện thực tế của mỗi quốc gia, mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể.
Cuối những năm 70 của thế kỷ XX, xuất hiện những nhân tố mới trong tư duy quản lý, nó giải đáp về nguyên nhân sự thành công của doanh nghiệp. Hai chuyên gia tư vấn của công ty McKinsey là Tom Peters và Robert Waterman đã nghiên cứu một nhóm công ty hàng đầu tại Mỹ, như: Kodak, HP, IBM, Procter & Gamble, 3M. và năm 1982 họ xuất bản quyển sách với tiêu đề “In Search of Excellence” bao gồm 7 yếu tố. Do 7 yếu tố trong tiếng Anh được viết bắt đầu từ chữ cái S, vì vậy mô hình tìm ra được đặt tên là mô hình 7-S.
Trong 7 yếu tố này được chia thành nhóm yếu tố cứng và nhóm yếu tố mềm. Nhóm yếu tố cứng bao gồm: Structure (cơ cấu), Strategy (chiến lược), System (hệ thống); nhóm yếu tố mềm bao gồm: Skill (kỹ năng), Style (phong cách), Shared Values (Giá trị chung), đặc biệt là Staff (Đội 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ngũ) đã xuất hiện. Đô iô ngũ được xác định là “số một”, khâu quan trọng nhất. Vì vậy, xây dựng và phát triển đô iô ngũ ở mỗi đơn vị là việc làm thường xuyên liên tục.
Trong những năm gần đây đã có nhiều tác giả nghiên cứu lý luận về quản lý giáo dục, các giải pháp phát triển giáo dục và phát triển đô iô ngũ cán bô ô quản lý giáo dục. - Tác giả Đặng Quốc Bảo đề cập đến “Những vấn đề cơ bản về lãnh đạo - quản lý và sự vận dụng vào điều hành nhà trường” [3] đã giới thiệu và tổng hợp các yếu tố, phẩm chất, năng lực mỗi CBQL giáo dục cần có và cần đạt được; các vấn đề cốt lõi của lãnh đạo và quản lý cũng như việc thực hiện vai trò lãnh đạo, quản lý trong các nhà trường. - Cuốn sách “Giáo dục Việt Nam những thập niên đầu thế kỷ XXI - Chiến lược phát triển” Nxb Gáo dụ, Hà Nội, 2003 của Đặng Bá Lãm đã có những phân tích khá sâu sắc về giải pháp quản lý giáo dục [28, tr. - Tác giả Trần Khánh Đức trong cuốn "Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI” đã trình bày quan điểm, mục tiêu và biện pháp phát triển giáo dục và hệ thống giáo dục, làm rõ thêm nhận thức về chiến lược phát triển giáo dục cũng như phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI [21].
- Tác giả Nguyễn Tiến Đạt đã nghiên cứu những kinh nghiệm và thành tựu phát triển giáo dục và đào tạo trên thế giới, thông qua đó người đọc có thể so sánh, đối chiếu và nhận thấy được vai trò của đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục ở các nước có nền giáo dục tiên tiến, hiện đại [20], ngoài ra còn nhiều tài liệu khác đề cập đến vấn đề này. Về nghiên cứu đề xuất các biện pháp quản lý nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL giáo dục có một số luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục về đề tài quản lý giáo dục như: - “Biện pháp phát triển đội ngũ nữ CBQL trường THCS ở huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang” của Nguyễn Đức Dụng (2010). - “Biện pháp phát triển đội ngũ CBQL trường THPT tỉnh Vĩnh Phúc của Nguyễn Quang Tuấn (2011). - “Các giải pháp xây dựng, phát triển giáo viên và đội ngũ CBQL trường THPT tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2006-2010” của tác giả Phạm Đình Ly.
6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Các tác giả đã dựa trên thực trạng kinh tế xã hội của từng địa phương nghiên cứu, phân tích vai trò, vị trí của CBQL trường THPT và đề xuất các giải pháp phù hợp, đóng góp đáng kể về lý luận và thực tiễn cho công tác quản lý trong nhà trường. Tuy nhiên, việc áp dụng các kết quả nghiên cứu trên để phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường trung học phổ thông tỉnh Thái Bình chưa thật sự đạt kết quả như mong đợi. Cho đến thời điểm 5 năm trở lại đây, tỉnh Thái Bình chưa có công trình nào nghiên cứu vấn đề phát triển đội ngũ quản lý giáo dục trường trung học phổ thông của tỉnh. Vì vậy, việc nghiên cứu, đề xuất các biện pháp phát triển đội ngũ quản lý giáo dục trường trung học phổ thông của tỉnh Thái Bình là cần thiết.
Một số lý luận cơ bản về quản lý phát triển đội ngũ giáo viên 1. Quản lý Ngay từ khi con người bắt đầu hình thành các nhóm, để thực hiện mục tiêu mà họ không thể đạt được với tư cách cá nhân riêng lẻ, thì cách QL đã là một yếu tố cần thiết để đảm bảo sự phối hợp của những cá nhân. Vì chúng ta ngày càng dựa vào sự nỗ lực chung, nhiều nhóm có tổ chức trở nên rộng lớn hơn, cho nên nhiệm vụ QL ngày càng quan trọng. Hoạt động QL bắt nguồn từ sự phân công lao động, mục đích của hoạt động quản lý nhằm tăng năng suất lao động, cải tạo cuộc sống.
Để đạt được mục tiêu trên cơ sở kết hợp các yếu tố con người, phương tiện. thì cần có sự tổ chức và điều hành chung, đó chính là quá trình quản lý. Hiện nay vẫn còn tồn tại khá nhiều những khái niệm, định nghĩa về quản lý. Trong tác phẩm “Những vấn đề cốt yếu của quản lý”, tác giả người Mỹ H.Kootz đã đưa ra khái niệm “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục đích của tổ chức.
Mục đích của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của mình với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất”. Mary Parker Follett định nghĩa: Quản lý là nghệ thuật hoàn thành công việc thông qua con người[2, tr11]. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tác giả Phạm Viết Vượng trong cuốn Quản lí hành chính nhà nước và quản lí ngành giáo dục đào tạo coi “Quản lí là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lí lên đối tượng quản lí nhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi của cá nhân hướng đến mục đích hoạt động chung và phù hợp với quy luật khách quan” [35, tr40]. Theo các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì định nghĩa kinh điển nhất về quản lí (có thể áp dụng trực tiếp cho phát triển đội ngũ) là: Quá trình tác động có chủ hướng, có chủ đích của chủ thể quản lí (người quản lí) đến khách thể (đối tượng quản lí) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của mình.
Như vậy, quản lí ở đâu và lúc nào cũng nhằm tới sự ổn định và phát triển của hệ thống, của sự vật. Xét dưới góc độ hoạt động thì quản lí có 4 chức năng cơ bản sau: - Chức năng lập kế hoạch: Xác định mục tiêu, mục đích của tổ chức, dự kiến các hoạt động của một quá trình, một giai đoạn hoạt động hợp lí, các con đường, biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó, cụ thể là: + Những hoạt động gì mà một người hay một tổ chức muốn làm + Những hoạt động đó được thực hiện như thế nào + Khi nào những hoạt động đó được thực hiện + Ai là người thực hiện những hoạt động đó + Nguồn lực gì là cần thiết để thực hiện những hoạt động đó + Những hoạt động đó được diễn ra ở đâu Trong nhà trường, người CBQL trường học cần xác định được các mục tiêu phát triển của nhà trường và chương trình hành động phải được cụ thể hóa trước khi tiến hành thực hiện. Kế hoạch GD trong nhà trường bao gồm: + Kế hoạch chiến lược dài hạn thực hiện trong một nhiệm kỳ 5 năm (những định hướng lớn, thể hiện hình ảnh hiện thực trong tương lai mà nhà trường mong muốn đạt tới và các giải pháp chiến lược để đạt được trên cơ sở khả năng hiện tại); + Kế hoạch năm học (định ra cho toàn bộ các mặt công tác, các hoạt động của nhà trường trong một năm học); + Kế hoạch tác nghiệp cho một thời kỳ ngắn (kế hoạch ngày, tuần, tháng, quý). 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Chức năng tổ chức: Sự phân công, phối hợp giữa các bộ phận, các thành viên trong tổ chức để thực hiện các mục tiêu đã được đặt ra.
Nhờ việc tổ chức hiệu quả, người quản lí có thể phối hợp, điều phối tốt hơn các các nguồn lực. Có thể nói, thành tựu của một tổ chức phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của người quản lí. Quá trình của việc tổ chức bao gồm các bước sau đây: + Xem xét những kế hoạch và mục tiêu: Điều này giúp nhà quản lý tổ chức con người và nhiệm vụ để đạt được những mục tiêu đã định. + Xác định các hoạt động cần thiết để thực hiện các mục tiêu.
+ Phân loại và nhóm các mục tiêu vào các đơn vị quản lý công việc mà luôn được tiến hành bằng cách kết hợp những kỹ năng với hoạt động cụ thể.