Chương 1: Cơ sở lí luận về phát triển đội ngũ HT trường THCS và Chuẩn HT. Chương 2: Thực trạng đội ngũ và phát triển đội ngũ HT các trường THCS huyện Kim Bảng tỉnh Hà Nam theo Chuẩn Hiệu trưởng. Chương 3: Biện pháp phát triển đội ngũ HT các trường THCS huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam theo Chuẩn HT. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ HIỆU TRƢỞNG TRƢỜNG THCS THEO QUY ĐỊNH CHUẨN HIỆU TRƢỞNG 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Ở nước ngoài Trên thế giới, có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề quản lý và người quản lý. Ở giữa thế kỷ XVIII, các nhà khoa học người Anh: Robert Owen, Charles Babbage và Andrew Ure đã đưa ra ý tưởng: Muốn tăng năng suất lao động, cần tập trung giải quyết một số yếu tố chủ yếu là tạo ra phúc lợi công cộng, tìm giải pháp giám sát công nhân, quan tâm đến mối quan hệ giữa người quản lý với người bị quản lý và nâng cao trình độ quản lý cho các nhà quản lý. Đến giữa thế kỷ XX, khi xã hội có dấu hiệu của sự bùng nổ thông tin và dần chuyển thành xã hội thông tin, nhiều nhà khoa học nghiên cứu về quản lý đã có công trình nghiên cứu về quản lý trong môi trường luôn luôn biến đổi, quản lý theo quan điểm hệ thống, quản lý tình huống.
Tiêu biểu là nhóm tác giả Harold Koontz, Cyril o‟donnell và Heinz Weihrich với tác phẩm "Essentials of Management" - "Những vấn đề cốt lõi của quản lý" (NXB Khoa học kỹ thuật, Hà Nội, năm 1992) được coi như là cẩm nang của các nhà quản lý, đề cập sâu sắc, toàn diện về các yêu cầu của chất lượng quản lý và hệ thống lý luận về khoa học quản lý. Công trình của Giáo sư Wiliam Ouchi (trường Đại học California, LosAngeles, Mỹ) đã khẳng định tầm quan trọng của văn hóa trong quản lý và nêu ra 7 yếu tố (7S) có ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý gồm: Strategy (chiến lược), Skills (kỹ năng), Style (cách thức), System (hệ thống), Structure (cơ cấu), Shared value (các giá trị chung) và đặc biệt là Staff (đội ngũ). Ngoài ra, đứng ở góc độ nghiên cứu khoa học QLGD, có nhiều công trình nghiên cứu các tác giả Liên Xô (cũ), tiêu biểu như: "Những vấn đề về quản lý trường học" của P.I Kônđacôp; “Quản lý vấn đề quốc dân trên địa bàn huyện" của M.I Kônđacôp; "Giáo dục học" của Ilina. Nhà giáo dục học Xô-viết V.A Xukhomlinxki khi tổng kết những kinh nghiệm quản lý chuyên môn trong vai trò là HT nhà trường cho rằng kết quả hoạt động của nhà trường phụ thuộc rất nhiều vào công việc tổ chức đúng đắn các hoạt động dạy học, đồng thời ông đã nhấn mạnh đến sự phân công, sự phối hợp chặt chẽ, thống nhất quản lý giữa HT và phó HT để đạt được mục tiêu đề ra.
7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Bước sang thế kỷ XXI lĩnh vực khoa học QLGD tiếp tục nhận được sự quan tâm đặc biệt của giới khoa học. Tác giả Pam Robbins Harvey B.Alvy đã viết cuốn "The Principal's Companion" - “Cẩm nang dành cho HT” đã được nhóm dịch giả Nguyễn Cường dịch năm 2004, tác phẩm giới thiệu về vai trò, chức năng và nhiệm vụ của người HT; chiến lược và lời khuyên thực tế giúp công việc hiệu quả hơn.Everad, Geofrey Morris và Ian Wilson với tác phẩm "Effective School Management" - "Quản trị hiệu quả trường học” (NXB Giáo dục, năm 2009) [33] chỉ ra những nội dung mang tính thực tiễn cao trên cơ sở lý luận về quản lý hiện đại mà chính các tác giả là những người trực tiếp thực hành viết ra cho những người thực hành, đây là cuốn sách thật sự có ý nghĩa, thiết thực cho cán bộ CBQL trường học. Từ đây, vấn đề chất lượng của người quản lý thực sự đã đề cập tới những yêu cầu và cách thức nâng cao chất lượng đội ngũ đó. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, nền giáo dục các nước đang phát triển theo xu hướng hiện đại và hội nhập với phát triển chung của thế giới.
Nền giáo dục tốt sẽ đào tạo ra nguồn nhân lực tốt, nâng cao vị thế quốc gia. Trong báo cáo phát triển con người của VNDP năm 2008 đã cho thấy phần lớn các quốc gia có chỉ số HDI (Chỉ số phát triển con người) cao là những nước có hệ thống giáo dục vào loại tốt nhất thế giới như Nauy, Ailen, Ôxtrâylia, Canada, Thụy Điển, Hà Lan. hoặc các nước trong khu vực Châu Á có trình độ phát triển nhanh như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Singapore. Để có một nền giáo dục tốt như vậy, các nước đã rất coi trọng sự phát triển đội ngũ giáo viên, CBQL trong đó có những chính sách đãi ngộ xứng đáng về vật chất và tinh thần cho người làm công tác giáo dục.
Vấn đề đào tạo phát triển đội ngũ CBQL và giáo viên được các nước tiên tiến hết sức coi trọng dựa trên hệ thống chuẩn giáo viên và chuẩn HT. Ở Việt Nam Vấn đề xây dựng, phát triển đội ngũ CBQL giáo dục được Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức quan tâm, được đề cập ở nhiều Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng và Nhà nước, được quy định trong Luật Giáo dục, Chiến lược phát triển giáo dục và các Nghị định, Thông tư, các chương trình, đề án của Chính phủ và các Bộ - Ngành Trung ương, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng và phát triển đội ngũ CBQL giáo dục. Nhiều công trình nghiên cứu về đội ngũ CBQL giáo dục đã được thực hiện. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trước hết phải nói đến tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ, trong tác phẩm sửa đổi lề lối làm việc Người đã khẳng định: "Cán bộ là gốc của mọi công việc", "mọi việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém", "có cán bộ tốt thì việc gì cũng xong".
[23] Trên cơ sở lý luận Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, công tác cán bộ nói chung, CBQL giáo dục nói riêng luôn được Đảng, Nhà nước và các cấp quản lý đặc biệt quan tâm. Phát triển sự nghiệp giáo dục được coi là "quốc sách" hàng đầu. Chỉ thị 40-CT/TW ngày 15/6/2004 của Ban Bí thư Trung ương Đảng đã xác định: “Mục tiêu là xây dựng đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục được chuẩn hoá, đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lương tâm, tay nghề của nhà giáo; thông qua việc quản lý, phát triển đúng định hướng và có hiệu quả sự nghiệp giáo dục để nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước". [1] Đại hội lần thứ XI của Đảng đã thông qua Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 trong đó đã định hướng: "Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu.
Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế QLGD, phát triển đội ngũ giáo viên và CBQL là khâu then chốt". [16] Báo cáo Chính trị trình Đại hội XII của Đảng tiếp tục khẳng định: "Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; đẩy mạnh phát triển, ứng dụng khoa học - công nghệ; phát huy vai trò quốc sách hàng đầu của GD&ĐT và khoa học - công nghệ đối với sự nghiệp đổi mới và phát triển của đất nước". [2] Bên cạnh hệ thống tư tưởng chỉ đạo mang tính định hướng ở tầm vĩ mô về phát triển giáo dục của Đảng và Nhà nước, khoa học quản lý nói chung, QLGD nói riêng được nhiều nhà quản lý, nhiều nhà khoa học nổi tiếng tập trung nghiên cứu. Nhiều công trình, đề tài khoa học cấp Nhà nước về lĩnh vực phát triển nguồn nhân lực CBQL giáo dục và trường học được xuất bản, đăng tải trên các tạp chí của ngành và kỷ yếu hội thảo quốc gia, tiêu biểu như: Đặng Quốc Bảo (2007) - "Cẩm nang nâng cao năng lực quản lý nhà trường" [4]; Trần Kiểm (2012) -"Những vấn 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đề cơ bản của khoa học QLGD" [22]; Chu Mạnh Nguyên (2005)-"Giáo trình Bồi dưỡng HT trường THCS" [24]; Vũ Ngọc Hải (2003) - "Hệ thống giáo dục hiện đại trong những năm đầu thế kỷ XXI” [19],.
Các công trình nghiên cứu này là cẩm nang cho các nhà QLGD các cấp trong lý luận cũng như trong thực tiễn QLGD và quản lý nhà trường. Trong các công trình nghiên cứu, bài viết đó các tác giả đã đề cập đến vai trò của đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục; đưa ra một số giải pháp để xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục. Cùng với những tác phẩm, những công trình khoa học về lý luận cũng như các giải pháp phát triển giáo dục còn có nhiều đề tài, hội thảo khoa học cấp nhà nước về lĩnh vực QLGD, quản lý trường học, tiêu biểu là Hội thảo khoa học “Chiến lược xây dựng đội ngũ QLGD phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH” (tháng 11/1998) đã mở ra bước ngoặc quan trọng trong việc nghiên cứu, quy hoạch, xây dựng phát triển và đào tạo đội ngũ CBQL giáo dục có phẩm chất, năng lực, có khả năng dự báo, phân tích, tầm nhìn chiến lược đề ra mục tiêu, giải pháp cho sự nghiệp phát triển giáo dục, thực sự là linh hồn, hạt nhân trong mỗi đơn vị trường học và cơ sở giáo dục; Hội thảo khoa học – công nghệ “Nguồn nhân lực QLGD thế kỷ 21” (tháng 11/2008) với mục tiêu hướng đến những giải pháp phát triển nguồn nhân lực QLGD Việt Nam trên cơ sở các vấn đề về lý luận và thực tiễn đặt ra đối với sự phát triển đội ngũ CBQL giáo dục trong thế kỷ 21 trước những cơ hội và thách thức phát triển giáo dục của kỷ nguyên mới.