Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ HIỆU TRƯỞNG MẦM NON 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực Những phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ ở thế kỷ 21 đã cho thấy một minh chứng về sức mạnh của “vốn con người” và “nguồn lực khiến khái niệm phát triển nguồn nhân lực ngày càng trở nên phổ biến hơn. Tác giả Leonard Nadler nhấn mạnh quản lý nguồn nhân lực gồm có 3 nhiệm vụ chính là: Phát triển nguồn lực; Sử dụng nguồn nhân lực; Tạo môi trường thuận lợi để nhân lực phát triển [31].
Bên cạnh đó, một số tác giả khác như Heinz Weihrich, Harold Koontz đã phân tích vấn đề hiện đại hóa quá trình đào tạo, phát triển nguồn nhân lực; vấn đề quản lý, sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực như một vấn đề quan tâm hàng đầu trong nền kinh tế hiện đại [23]. Tại Việt Nam, vấn đề này cũng được nhiều tác giả đề cập đến, tác giả Phan Văn Kha đã đặt ra vấn đề đào tạo nhân lực khi phân tích khái niệm quản lý chất lượng. Nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực Việt Nam trong thời kỳ CNH, HĐH, tác giả Đặng Bá Lãm đã phân tích một cách cụ thể quá trình phát triển nguồn nhân lực cho sự nghiệp CNH, HĐH ở Việt Nam hiện nay. Công trình nghiên cứu khoa học: “Những vấn đề lý luận cơ bản về phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam” của chủ nhiệm đề tài Nguyễn Lộc và nhóm tác giả đã đưa ra một số khá khái niệm cơ bản liên quan tới phát triển nguồn nhân lực: Cũng với mối quan tâm này, tác giả Trần Khánh Đức đã đưa ra những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả của các hoạt động quản lý, nghiên cứu, đào tạo và giảng dạy trong hệ thống các trường, các cơ sở đào tạo ở các bậc học khác nhau.
Theo tác giả “Phát triển NNL là quá trình tạo ra sự biến đổi, chuyển biến số lượng, cơ cấu và chất lượng NNL phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội ở các cấp độ khác nhau (quốc gia, vùng 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com miền, địa phương) đáp ứng nhu cầu nhân lực cần thiết trong các lĩnh vực hoạt động lao động và đời sống xã hội, nhờ vậy mà phát triển được năng lực” [17]. Đề cập đến các nghiên cứu về quản lý nguồn nhân lực phải kể đến các nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc, tác giả đã khái quát về các mô hình quản lí nguồn lực con người trong tổ chức như: Mô hình Havard, Mô hình Guest, Mô hình Fombrun về quản lí nguồn nhân lực… [17]. Theo tác giả Mạc Văn Trang đưa ra quan niệm về quản lý nhân lực trong giáo dục - đào tạo: “Quản lý nhân lực là hoạt động của chủ thể quản lý gồm tuyển chọn, sử dụng, duy trì, động viên, phát triển và tạo các điều kiện thuận lợi cho cán bộ, giáo viên, công nhân viên làm việc có hiệu quả, nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức giáo dục- đào tạo (trường, ngành), đồng thời cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của họ ngày càng một tốt hơn” [43]. Qua việc tổng quan một số nghiên cứu trong và ngoài nước nêu trên có thể thấy đã có nhiều công trình nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực, có thể khẳng định vai trò của nguồn nhân lực đối với sự phát triển của kinh tế và xã hội của các nước trong bối cảnh toàn cầu hóa với những chuyển biến mạnh mẽ về khoa học công nghệ nói chung đặc biệt đối với giáo dục đào tạo- một lĩnh vực được xem như chìa khóa cho việc công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước trong thời kỳ đổi mới.
Các nghiên cứu về phát triển đội ngũ giáo viên mầm non và hiệu trưởng trường mầm non Khi đề cập đến phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý, một số nghiên cứu gần đây đề cao việc thúc đẩy phát triển bền vững, nâng cao chất lượng thông qua việc xây dựng và hoàn thiện công tác chuẩn hóa đối với từng vị trí việc làm. Trong tổng kết của UNESCO năm 2005 đã nêu rõ vai trò của người giáo viên: Người giáo viên phải đảm nhận nhiều chức năng hơn so với trước và có trách nhiệm nặng hơn trong việc lựa chọn các nội dung dạy học và giáo dục. Vai trò của người giáo viên đang chuyển mạnh từ chỗ truyền thụ kiến thức 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sang tổ chức hoạt động học tập của học sinh; Coi trọng hơn việc cá biệt hóa trong học tập của học sinh và thay đổi tính chất trong quan hệ thầy trò… Song song với sự thay đổi về vai trò, yêu cầu người giáo viên phải biết sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại, từ đó đặt ra yêu cầu đối với GV cần được trang bị thêm các kiến thức và kỹ năng cần thiết; yêu cầu hợp tác rộng rãi và chặt chẽ hơn với các giáo viên cùng trường, thay đổi cấu trúc trong mối quan hệ giữa các giáo viên với nhau; yêu cầu thắt chặt hơn các mối quan hệ với cha mẹ học sinh và cộng đồng nhằm góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống và phải tham gia các hoạt động rộng rãi trong và ngoài nhà trường cũng như giảm bớt và làm thay đổi kiểu uy tín truyền thống trong quan hệ đối với học sinh, nhất là đối với học sinh lớn và với cha mẹ học sinh Về mặt chất lượng của nhà giáo, một số nghiên cứu của các thành viên OECD (Tổ chức Hợp tác Phát triển Châu Âu) cũng đã chỉ ra các mặt: Kiến thức phong phú về nội dung chương trình và nội dung bộ môn mình dạy; kỹ năng sư phạm, kể cả việc có được “kho kiến thức” về phương pháp dạy học và về năng lực sử dụng những phương pháp đó; có tư duy phê phán trước mỗi vấn đề và năng lực tự phê, nét đặc trưng của nghề dạy học; biết tôn trọng và cam kết tôn trọng phẩm giá của người khác; có năng lực quản lý, kể cả trách nhiệm quản lý trong và ngoài lớp học. Khi bàn đến“Quản lý giáo dục”, các tác giả Bùi Minh Hiền - Vũ Ngọc Hải - Đặng Quốc Bảo đã quan tâm đến ba vấn đề: Số lượng, chất lượng, cơ cấu của đội ngũ giáo viên trong một nhà trường.
Đó là điều kiện cần cho sự phát triển và cần chú ý đến tính đồng thuận của đội ngũ giáo viên mới để tạo điều kiện đủ cho sự phát triển bền vững của đội ngũ trên cơ sở phân tích các chức năng quản lý trong phát triển đội ngũ giáo viên từ việc lập kế hoạch, tổ chức - chỉ đạo và kiểm tra phải đảm bảo các vấn đề về số lượng, chất lượng và cơ cấu [24]. Dự án Hỗ trợ đổi mới quản lý giáo dục (Support to the Renovation Management - SREM) đã có những nghiên cứu về thực hiện đổi mới quản lý 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giáo dục nhằm nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ quản lý trên cả phương diện lý luận và thực tiễn. Dự án đã có những tác động tích cực trong việc nâng cao năng lực phát triển đội ngũ của hiệu trưởng trong công tác tuyển dụng và sử dụng, đánh giá giám sát cán bộ và thúc đẩy, chỉ đạo phát triển chuyên môn của đội ngũ giáo viên theo hướng phát triển nguồn nhân lực của nhà trường. Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc đã nhấn mạnh đến vấn đề "lý tưởng sư phạm" trong "Nghề và Nghiệp của người giáo viên", tạo nên động cơ cho việc thực hành nghề dạy học của giáo viên.
Nếu không có lý tưởng sư phạm thì không có sự thôi thúc người giáo viên sáng tạo, không thúc đẩy người giáo viên không ngừng học hỏi, nâng cao trình độ. Từ đó quan niệm đó, các tác giả đặt ra yêu cầu cần phải xây dựng tập thể sư phạm theo mô hình "đồng thuận" mà ở đó giáo viên trong quan hệ với nhau có sự chia sẻ "bí quyết nhà nghề"; đồng thời, những yêu cầu về năng lực chuyên môn của người giáo viên là nền tảng của mô hình đào tạo giáo viên thế kỷ XXI: sáng tạo và hiệu quả. Cụ thể hóa những quan điểm nêu trên trong cấp học mầm non, tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc và Nguyễn Thị Tuất khẳng định về vai trò của giáo viên mầm non: “Giáo viên mầm non - nhà tổ chức - nhà quản lý” [32], song song với vai trò, người giáo viên mầm non có các yêu cầu về năng lực như: năng lực quan sát, năng lực giao tiếp, năng lực sư phạm, năng lực quản lý, năng lực cảm hóa và thuyết phục; các phẩm chất cơ bản giáo viên mầm non mà trong đó lòng nhân ái và sự đôn hậu là điều kiện tiên quyết số 1 đối với GVMN [33, 34]. Chia sẻ quan điểm nêu trên, tác giả Đào Thanh Âm đề xuất mô hình nhân cách giáo viên mầm non trong thời kì hội nhập quốc tế: tiềm năng, khả năng, kĩ năng hoạt động nghề nghiệp; nếp sống thói quen và các phẩm chất nhân cách.
tác giả khẳng định đặc điểm lao động của GVMN thể hiện ba chức năng là chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ thơ, lấy quan hệ tình cảm yêu thương mẹ-con làm yếu tố quyết định, do đó lòng yêu trẻ là phẩm chất đầu tiên trong nhân cách một GVMN đích thực. Mô hình nhân cách GVMN cũng như cán bộ quản lý trường mầm non cũng xuất phát từ chuẩn nghề nghiệp. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tùy thuộc mỗi giai đoạn lịch sử - xã hội thì có sự điều chỉnh hoặc nhấn mạnh đến những tiêu chuẩn đánh giá cụ thể nào đó [38]. Tác giả Đỗ Thị Lan Hương khi bàn về phát triển đội ngũ CBQL trường mầm non thị xã Sơn Tây theo hướng chuẩn hóa đã nhấn mạnh xu hướng chuẩn hóa đội ngũ cán bộ quản lý trường mầm non như một đồi hỏi mang tính tất yếu nhằm nâng cao hiệu quả công tác phát triển đội ngũ này [28].
Tác giả Nguyễn Thị Thu Hoài đã đề xuất các biện pháp nhằm phát triển đội ngũ CBQL trường mầm non tại quận Dương Kinh - TP. Hải Dương cụ thể như chú trọng công tác tổ chức và qui hoạch cán bộ, bồi dưỡng thường xuyên. Về cơ bản những nghiên cứu nêu trên đã có những đóng góp nhất định đối với công tác phát triển đội ngũ giáo viên cũng như CBQL trường mầm non song những nghiên cứu về nội dung này trong bối cảnh hiện nay đặc biệt tại một địa phương mang nhiều đặc thù như Tỉnh Quảng Ninh hiện còn khá trống vắng.