Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và sự phát triển của nền kinh tế tri thức hiện nay, giáo dục đại học (GDĐH) đang chịu những tác động mạnh mẽ của các xu thế mới và cũng đang phải đối mặt với nhiều thách thức. Đổi mới giáo dục đại học là một yêu cầu tất yếu [12].
Đội ngũ CBQL, hiệu trưởng trường đại học chính là những người cầm lái, ở vị trí tiên phong, ra các quyết định quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển sống còn của trường đại học, đặc biệt khi cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm xã hội và trao quyền được nhận thức, hiện hữu trong thực tế. Nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả trên thế giới và Việt Nam về phát triển đội ngũ CBQL nói chung, CBQL trong các cơ sở giáo dục và phát triển đội ngũ hiệu trưởng nhà trường nói riêng đã được công bố. Nghiên cứu về phát triển đội ngũ cán bộ quản lý Giữa thế kỷ thứ XVIII, các nhà khoa học phương Tây như Robert Owen (1771-1858), Charles Babbage (1792-1871), Andrew Ure (1778-1875) đã đưa ra ý tưởng: Muốn tăng năng suất lao động, cần tập trung giải quyết các yếu tố về quản lý; Tác giả Frederick Winslow Taylor (1856-1915) vào năm 1911 đã đưa ra bốn nguyên tắc quản lý khoa học: 1) xác định các phương pháp hoàn thành mỗi loại công việc; 2) tuyển chọn và huấn luyện công nhân; 3) sự hợp tác cần thiết của người quản lý với người bị quản lý; 4) bổn phận của người quản lý là lập kế hoạch và của người bị quản lý là thực thi kế hoạch; Tác giả Henri Fayol (1841-1925) cho rằng hiệu quả quản lý được đảm bảo nếu người quản lý có đủ phẩm chất và năng lực kết hợp nhuần nhuyễn các chức năng, quy tắc và nguyên tắc quản lý [3] [13] [29]. Các nhà khoa học Liên Xô (trước đây), tiêu biểu như Illina T.
đã đề cập đến chức năng, vị trí, vai trò của CBQL nhà trường [40]. Vào thập kỷ 70-80 của thế kỷ XX, nghiên cứu của William Ouchi, trường đại học California, Los Angeles, Hoa Kỳ, đã khẳng định tầm quan trọng của văn hóa trong quản lý và nêu bảy đặc điểm (7S) có ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý (Cơ cấu (Structure), Chiến lược (Strategy), Kỹ năng (Skills), Phong cách (Style), Hệ thống (System), Giá trị chung (Shared Value) và Đội 9 ngũ (Staff) [3].Deming, Crosby và Ohno (1991), đã đưa ra Lý thuyết quản lý chất lượng tổng thể (Total Quality Management - TQM) [dẫn theo 13]. Schmuck và các tác giả khác (1997), đã đưa ra Lý thuyết quản lý sự thay đổi để tạo ra bước đột phá trong việc nâng cao năng lực của đội ngũ CBQL [28]. Các công trình nghiên cứu của ba tác giả Harold Koontz, Cyril Odonnel, Heinz Eeihrich đã đề cập nhiều hơn đến các yêu cầu chất lượng của người quản lý trong cuốn: “Những vấn đề cốt yếu của quản lý” [29].
Một số công trình nghiên cứu của Bikas C.Sanyal, Micheala Martin, Susan D’Antoni thuộc Viện Quy hoạch giáo dục Quốc tế IIEP mang tính hệ thống, khá đầy đủ và liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu là tài liệu: “Quản lý trường đại học trong giáo dục đại học” đã làm nổi bật ba chủ đề cơ bản: 1) quản lý tài chính; 2) quản lý cán bộ giảng dạy; 3) quản lý diện tích sử dụng [3]. Ở Việt Nam, tác giả Nguyễn Minh Hạc với công trình: “Giáo dục nhân cách và đào tạo nhân lực” đã nêu mô hình nhân cách của người CBQL và vấn đề đào tạo phát triển nhân lực nói chung, đội ngũ CBQL nói riêng đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước [40][25][26]. Rất nhiều các công trình nghiên cứu của các tác giả như: Mai Hữu Khuê (1982) [43], Kiều Nam (1983) [53], Phạm Đức Thành (1995) [64], Nguyễn Minh Đạo (1997) [18], Đỗ Hoàng Toàn (1998) [66], Nguyễn Văn Bình (1999) [4], Nguyễn Phú Trọng, Trần Xuân Sầm (2001) [trích theo 68],. đã đưa ra những luận điểm về lý luận và thực tiễn của công tác quản lý, trong đó đề cập đến vấn đề chất lượng của CBQL và nâng cao chất lượng của CBQL đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong mỗi thời kỳ lịch sử [40].
Tác giả Phạm Thành Nghị, Vũ Hoàng Ngân với công trình: “Quản lý nguồn nhân lực ở Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” đã tập hợp các bài nghiên cứu, bài viết, bài tham luận tại Hội thảo của Đề tài KX.11 thuộc Chương trình Khoa học - Công nghệ cấp Nhà nước KX.05 (giai đoạn 2001 - 2005) với các vấn đề lý luận, kinh nghiệm và những khuyến nghị chính yếu trong quản lý nguồn nhân lực Việt Nam, trong đó có nguồn nhân lực là CBQL lãnh đạo. Công trình có ý nghĩa quan trọng để Nhà nước ta quản lý hiệu quả nguồn nhân lực Việt Nam, góp phần đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại 10 hóa và thực hiện công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa [13] [40] [54]. Các công trình nghiên cứu theo hướng này của các nhà khoa học nêu trên ở nước ta đã đề cập các vấn đề cơ bản sau: 1) Ví trí, vai trò của người CBQL trong công việc, trong một tổ chức/ đơn vị và ý nghĩa quyết định của họ đối với hiệu quả công việc. 2) Vấn đề quy hoạch cán bộ nói chung, CBQL như: mục đích, quan điểm, nguyên tắc và phương châm của công tác quy hoạch cán bộ, các nội dung và phương pháp của công tác quy hoạch cán bộ nhằm có được một đội ngũ CBQL đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ của đất nước thời kỳ mới.
3) Mô hình nhân cách của người CBQL và vấn đề đào tạo phát triển nhân lực nói chung, đối ngũ CBQL nói riêng theo tiêu chuẩn cán bộ trong thời kỳ mới đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đồng thời, các nghiên cứu cũng nhấn mạnh đến vấn đề chất lượng của CBQL và nâng cao chất lượng của CBQL đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong mỗi thời kỳ lịch sử. Nghiên cứu về phát triển đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục Các tác giả Fred C. Vào năm 2003, Matin Hilb đã đưa ra mô hình hay lý thuyết quản lý nhân sự tổng thể với việc phân công nhân sự quản lý với mô hình hoạt động của một tổ chức gồm 4 bậc: 1) Bậc 1: Hoạt động nhân sự chỉ giới hạn trong nhiệm vụ điều hành quản lý nhân sự; 2) Bậc 2: Trưởng bộ phận nhân sự đưa vào áp dụng những phương thức quản lý nhân sự theo chỉ thị của ban lãnh đạo, nhưng không tạo được ảnh hưởng hậu thuẫn đối với các cấp phụ trách bộ phận chức năng; 3) Bậc 3: Các cấp phụ trách bộ phận chức năng kiêm luôn công việc điều hành nhân sự.
Trưởng bộ phận nhân sự chỉ có nhiệm vụ bổ sung những thiếu sót; 4) Bậc 4: Mức phát triển của ngành quản lý nhân sự đã ở bậc cao. Trưởng bộ phận nhân sự là những đối tác chiến lược và là thành viên của ban lãnh đạo doanh nghiệp [13].B Everard, Geoffrey Morris và Ian Wilson, 2009, đưa ra Lý thuyết quản lý môi trường đã nhấn mạnh đến người đứng đầu đơn vị phải đảm bảo được các chuẩn mực và giá trị của việc tôn trọng môi trường tự nhiên được thấm nhuần trong các nhà trường [3][13]. Các công trình nghiên cứu trên thế giới đã đề cập đến các vấn đề cơ bản của phát triển đội ngũ CBQL sau: 11 1) Đội ngũ CBQL nói chung, CBQL ở các cơ sở giáo dục nói riêng được nghiên cứu theo tiếp cận phát triển nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực tổng thể và quản lý nhân sự tổng thể trong một tổ chức/đơn vị. 2) Đội ngũ này có vai trò quyết định đến sự phát triển của tổ chức/đơn vị, đặt trong mối tương quan với các nội dung quản lý khác bên trong và bên ngoài của một tổ chức/đơn vị.
3) Năng lực của đội ngũ CBQL với tư cách như là yếu tố quan trọng nhất của chất lượng đội ngũ CBQL được quan tâm nghiên cứu. Trên cơ sở đó, các nội dung đào tạo (cấp văn bằng), bồi dưỡng (cấp chứng chỉ) được xây dựng và triển khai ở các quốc gia trên thế giới. 4) CBQL giáo dục vừa phải là nhà quản lý, vừa là nhà lãnh đạo, sự thích ứng nhanh của từng cá nhân và cả đội ngũ CBQL trước những thay đổi mạnh mẽ của môi trường bên ngoài là những yêu cầu tất yếu. Ở nước ta, một trong những công trình tiêu biểu trong lĩnh vực này là công trình của các tác giả Nguyễn Thị Doan, Đỗ Minh Cương, Phương Kỳ Sơn về: “Các học thuyết quản lý”.
Trong cuốn chuyên khảo này, các tác giả đã tổng quan giới thiệu và phân tích có hệ thống những quan điểm, tư tưởng, nội dung của những học thuyết tiêu biểu nhất trong quản lý học, từ tư tưởng và lý luận thời kỳ Trung Hoa cổ đại (tư tưởng Khổng Tử, Lý luận Pháp trị của Hàn Phi Tử) đến các học thuyết quản lý của xã hội công nghiệp (các quan điểm, thuyết quản lý theo khoa học của Robert Owen, Charles Babbage và tiêu biểu là của F.W Taylor), thuyết quản lý hành chính của Henry Fayol,. “Các tư tưởng và mô hình quản lý trên đã và đang có ảnh hưởng mạnh mẽ đến các công trình nghiên cứu lý luận quản lý, phát triển đội ngũ CBQL ở nước ta trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế” [dẫn theo 13]. Nhiều tác giả khác bàn về khoa học QLGD, CBQL giáo dục, quản lý nhà trường vai trò của đội ngũ nhà giáo, đội ngũ CBQL giáo dục, đưa ra một số giải pháp để xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo, CBQL giáo dục như: Đặng Quốc Bảo, Đặng Bá Lãm, Trần Kiểm, Bùi Minh Hiền, Vũ Ngọc Hải, Nguyễn Lộc, Phan Văn Kha, Nguyễn Tiến Hùng, Nguyễn Ngọc Quang, Nguyễn Vũ Bích Hiền, Phan Văn Nhân, Lê Phước Minh,. Những nghiên cứu theo xu hướng này bao gồm các vấn đề cơ bản sau: 1) Đưa ra những quan điểm cơ bản về lý luận QLGD và người QLGD.
Người QLGD, quản lý nhà trường là điểm tựa, là nguồn phát năng đảm bảo cho việc thống nhất giữa QLGD, quản lý nhà trường với hoạt động giảng dạy của người giảng viên với mục đích cuối cùng là đảm bảo chất lượng đào tạo, chất lượng bồi dưỡng đội ngũ CBQL giáo dục.