Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CỘNG TÁC VIÊN THANH TRA CẤP TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu Trong sự nghiệp cách mạng nước ta, Đảng và Nhà nước luôn coi trọng và đặt thanh tra vào vị trí quan trọng. Chỉ sau tuyên ngôn độc lập 2 tháng, ngày 23/11/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 64-SL thành lập Ban thanh tra đặc biệt. Đó là sắc lệnh lịch sử đối với ngành thanh tra, đồng thời điều đó cũng nói lên sự quan tâm của Đảng, của Bác Hồ đối với công tác thanh tra.
Qua những văn bản pháp luật của Nhà nước và Chính phủ đã thể hiện tầm quan trọng của thanh tra giáo dục trong sự nghiệp đổi mới quản lý giáo dục của đất nước. Bàn về công tác thanh tra, kiểm tra trong giáo dục các nhà khoa học giáo dục đã có nhiều công trình nghiên cứu về lý luận giáo dục, đặc biệt là về quản lý giáo dục, các tác giả: Đặng Quốc Bảo “Những vấn đề cơ bản về quản lý giáo dục”, Phan Văn Kha - “Giáo trình quản lý nhà nước về giáo dục”, Trần Kiểm -“ Những vấn đề cơ bản về khoa học quản lý giáo dục”… các công trình trên thực sự là cẩm nang cho các nhà quản lý giáo dục các cấp về lý luận cũng như về thực tiễn quản lý giáo dục. Vấn đề thanh tra, kiểm tra giáo dục nói chung và công tác quản lý nâng cao chất lượng đội ngũ CTVTT giáo dục cấp THCS nói riêng đã có nhiều nhà khoa học quan tâm, nghiên cứu đề ra những giải pháp thanh tra giáo dục có tính chất chung nhất. Gần đây, một số luận văn thạc sĩ chuyên ngành quản lý giáo dục đã nghiên cứu về các biện pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động thanh tra góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thanh tra giáo dục như đề tài của tác giả Lê Văn Vương (2005) “Biện pháp xây dựng đội ngũ CTVTT chuyên môn cấp THPT, tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2005-2010; đề tài của tác giả Lê Thị Tuyết Lan (2008) “Biện pháp tăng cường thanh tra chuyên môn cấp THPT tại quận Hoàn Kiếm thành phố Hà Nội”; đề tài của tác giả Hoàng Đàm Thanh (2008) “Biện pháp quản lý phát triển đội ngũ CTVTT giáo dục THCS tỉnh Cao Bằng; đề tài của tác giả Nguyễn Văn Thanh (2008) “Biện pháp quản lý nâng cao chất lượng đội ngũ CTVTT giáo dục cấp THPT của Sở GD&ĐT Ninh Bình”… Nhìn chung các đề tài đều quan tâm đến thanh tra giáo dục nhưng ở Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn những khía cạnh khác nhau, đối tượng khác nhau đều là những tài liệu có giá trị bổ ích.
Tuy nhiên Lai Châu là một tỉnh miền núi, được chia tách và thành lập năm 2004, đội ngũ cán bộ nói chung và đội ngũ cán bộ, giáo viên nhân viên trong ngành giáo dục nói riêng đa phần trẻ, kinh nghiệm ít với đặc thù riêng không thể áp dụng máy móc kinh nghiệm phát triển đội ngũ CTVTT ở tỉnh khác. Đến nay tỉnh Lai Châu theo các tài liệu mà tôi bao quát được vẫn chưa có một công trình nào đề cập đến phát triển đội ngũ CTVTT cấp THCS. Do đó vấn đề phát triển đội ngũ CTVTT cấp THCS cần được nghiên cứu làm rõ cả về lý luận và thực tiễn. Một số khái niệm cơ bản 1.
Thanh tra, Thanh tra giáo dục và Cộng tác viên Thanh tra 1. Thanh tra Thanh tra: Thanh tra có nghĩa là "nhìn vào bên trong", chỉ một sự xem xét từ bên ngoài đối với hoạt động của một số đối tượng nhất định và được giải thích là hoạt động kiểm tra, kiểm soát, kiểm kê đối với đối tượng bị thanh tra. Theo Từ điển Tiếng Việt (Trung tâm từ điển ngôn ngữ, Hà Nội, năm 1992): “Thanh tra là kiểm soát, xem xét tại chỗ việc làm của địa phương, cơ quan, xí nghiệp” [44]. Thanh tra giáo dục Thanh tra giáo dục: Nghị định số 42/2013/NĐ-CP ngày 09/5/2013 của Chính phủ quy định: Thanh tra giáo dục là hoạt động của chủ thể QLGD nhằm kiểm tra xem xét việc làm của các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực GD&ĐT; thường được thực hiện bởi một cơ quan chuyên trách theo một trình tự, thủ tục do pháp luật quy định để giúp cho QLGD đạt được mục tiêu nhiệm vụ đã đặt ra [13].
Thanh tra giáo dục là thanh tra chuyên ngành về giáo dục. TTGD thực hiện quyền thanh tra trong phạm vi QLNN về giáo dục, nhằm đảm bảo việc thi hành pháp luật, phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa và xử lý vi phạm, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực giáo dục. Cộng tác viên Thanh tra - CTVTT: Cộng tác viên thanh tra là người được cơ quan thanh tra nhà nước trưng tập tham gia Đoàn thanh tra. Cộng tác viên thanh tra là người không thuộc biên chế của các cơ quan thanh tra nhà nước [13].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn - CTVTT giáo dục: CTVTT giáo dục là công chức, viên chức trong ngành giáo dục, không thuộc biên chế của cơ quan thanh tra, có đủ tiêu chuẩn theo quy định, được cơ quan có thẩm quyền cấp thẻ cộng tác viên thanh tra giáo dục, trưng tập làm nhiệm vụ thanh tra. - Căn cứ vào nhiệm vụ thanh tra, Chánh Thanh tra sở xây dựng cơ cấu, số lượng cộng tác viên thanh tra giáo dục là công chức, viên chức thuộc cơ quan sở, cơ sở giáo dục trực thuộc sở, phòng giáo dục và đào tạo, cơ sở giáo dục trực thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện, đảm bảo đủ thành phần ở các cấp học và trình độ đào tạo, trình Giám đốc sở phê duyệt. - Căn cứ cơ cấu, số lượng cộng tác viên thanh tra giáo dục đã được phê duyệt, phòng giáo dục và đào tạo, các đơn vị, cơ sở giáo dục trực thuộc sở giáo dục và đào tạo gửi hồ sơ đề nghị công nhận cộng tác viên thanh tra giáo dục đến Thanh tra sở. Thanh tra sở tổng hợp trình Giám đốc sở ra quyết định công nhận và cấp thẻ cộng tác viên thanh tra giáo dục.
Cộng tác viên thanh tra cấp Trung học cơ sở và đội ngũ Cộng tác viên thanh tra cấp Trung học cơ sở 1. Cộng tác viên thanh tra cấp Trung học cơ sở CTVTT cấp THCS: CTVTT cấp THCS là công chức, viên chức trong ngành giáo dục thuộc khối THCS, không thuộc biên chế của cơ quan thanh tra, có đủ tiêu chuẩn theo quy định, được Giám đốc Sở Giáo dục ra quyết định công nhận và cấp thẻ CTVTT giáo dục, được trưng tập làm nhiệm vụ thanh tra giáo dục cấp THCS. Đội ngũ, đội ngũ Cộng tác viên thanh tra cấp Trung học cơ sở - Đội ngũ: Khái niệm đội ngũ tuy có nhiều cách khái niệm khác nhau, nhưng đều có chung một điểm đó là: một nhóm người được tổ chức và tập hợp thành một lực lượng, để thực hiện một hay nhiều chức năng, có thể có cùng hay không cùng nghề nghiệp, nhưng đều có chung một mục đích nhất định. Như vậy có thể hiểu: đội ngũ là một tập thể gồm số đông người, có cùng lý tưởng, có cùng mục đích, làm việc theo sự chỉ huy thống nhất, có kế hoạch gắn bó với nhau về quyền lợi vật chất cũng như tinh thần.
- Đội ngũ CTVTT cấp THCS: Đội ngũ CTVTT cấp THCS là một tập hợp những CTVTT cấp THCS, được tổ chức thành một lực lượng, cùng chung một nhiệm Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn vụ là thực hiện các mục tiêu công tác thanh tra cấp THCS. Họ làm việc có kế hoạch, gắn bó với nhau theo quy định của pháp luật, thể chế xã hội. Nói cách khác theo nghĩa hẹp, đội ngũ CTVTT cấp THCS là tập hợp những công chức, viên chức của ngành giáo dục thuộc cấp THCS, không thuộc biên chế của cơ quan thanh tra giáo dục được Giám đốc Sở ra quyết định công nhận và cấp thẻ CTVTT giáo dục, được trưng tập làm nhiệm vụ thanh tra giáo dục cấp THCS. - Chất lượng: Quan niệm chung nhất về “chất lượng” là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một người, một sự vật, sự việc.
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã xác định: “Chất lượng của cán bộ là sự thống nhất giữa phẩm chất chính trị và năng lực công tác, thể hiện ở kết quả hoàn thành nhiệm vụ”. - Chất lượng đội ngũ CTVTT cấp THCS: Chất lượng đội ngũ CTVTT cấp THCS là tổng hợp thống nhất biện chứng những giá trị, những thuộc tính đặc trưng, bản chất của đội ngũ CTVTT cấp THCS về mặt con người và các mặt hoạt động, quy định và phản ánh mức độ đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ chính trị của đội ngũ CTVTT cấp THCS trong điều kiện kinh tế thị trường, mở cửa, hội nhập quốc tế. Theo đó, chất lượng đội ngũ CTVTT cấp THCS có tính ổn định tương đối, có thể cao hoặc thấp do tác động của những điều kiện khách quan và chủ quan, không bất biến, thường xuyên vận động, biến đổi, phát triển theo yêu cầu, nhiệm vụ; chịu sự tác động mạnh mẽ của thực tiễn và phụ thuộc vào quá trình bồi dưỡng, rèn luyện, phấn đấu của mỗi người cán bộ. Phát triển và phát triển đội ngũ Cộng tác viên thanh tra cấp Trung học cơ sở 1.
Phát triển Phát triển là thuật ngữ được dùng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như: Phát triển kinh tế - xã hội, phát triển nguồn nhân lực, phát triển đội ngũ. theo từ điển Tiếng Việt: “Phát triển là biến đổi hoặc làm cho biến đổi từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp” [44]. Giáo dục và đào tạo là nền tảng để mỗi quốc gia, mỗi dân tộc phát triển kinh tế - xã hội, phát triển bền vững đất nước. Mục tiêu giáo dục của Nhà nước Việt Nam là nâng cao “dân trí”, đào tạo “nhân lực”, bồi dưỡng “nhân tài”.
Phát triển giáo dục là Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn quốc sách hàng đầu, phát triển giáo dục phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, tiến bộ khoa học, công nghệ cũng như quốc phòng, an ninh; thực hiện chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa; đảm bảo cân đối về cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu vùng miền; mở rộng quy mô trên cơ sở đảm bảo chất lượng và hiệu quả; kết hợp giữa đào tạo và sử dụng.