CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ TRONG DOANH NGHIỆP 1. Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực Khái niệm về nguồn nhân lực được định nghĩa trong nhiều tài liệu nhưng chưa hoàn toàn bao quát và nêu bật được chính xác đặc điểm và vai trò của nguồn nhân lực. Chẳng hạn, trong sách Quản lý và Phát triển nguồn nhân lực xuất bản năm 2016, tác giả Bùi Văn Nhơn định nghĩa: “Nguồn nhân lực của doanh nghiệp là lực lượng lao động của từng doanh nghiệp, là số người có trong danh sách của doanh nghiệp, do doanh nghiệp trả lương”.
Giáo trình Quản trị nhân lực, Trường Đại học Kinh tế quốc dân xuất bản năm 2010 của nhóm tác giả Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân thì cho rằng: “Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó, còn nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm có thể lực và trí lực”. Sách Quản trị nguồn nhân lực, Nhà xuất bản Tổng hợp, Tp Hồ Chí Minh xuất bản năm 2015, chủ biên Trần Kim Dung đã khái niệm: “Nguồn nhân lực của một tổ chức được hình thành trên cơ sở của các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định”. Từ sự thiếu sót và không rõ ràng trong việc định nghĩa khái niệm Nguồn nhân lực, cũng như thiếu sự đề cao cần thiết vai trò của Nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế-xã hội hiện nay; để phù hợp cho việc nắm bắt và 13 phân tích nội dung nghiên cứu, khái niệm Nguồn nhân lực được định nghĩa lại như sau: Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những cá nhân đóng góp vai trò (khác nhau) cho sự phát triển của tổ chức đó, dưới một mục tiêu chung mà được trả lương và hưởng các chế độ đãi ngộ từ công ty. Sách Quản lý và Phát triển nguồn nhân lực xuất bản năm 2016, tác giả Bùi Văn Nhơn giới thiệu: “Phát triển nguồn nhân lực là tổng thể các hình thức, phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng cho nguồn nhân lực (trí tuệ, thể chất và phẩm chất tâm lý xã hội) nhằm đáp ứng đòi hỏi về nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn phát triển”.
Giáo trình Quản trị nhân lực, trường Đại học Kinh tế Quốc dân xuất bản năm 2010 với chủ biên Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân lại cho rằng: “Phát triển nguồn nhân lực (theo nghĩa rộng) là tổng thể các hoạt động học tập có tổ chức được tiến hành trong những khoảng thời gian nhất định để nhằm tạo ra sự thay đổi hành vi nghề nghiệp của người lao động”. Một định nghĩa khác về phát triển nguồn nhân lực của hiệp hội Đào tạo và Phát triển Mỹ về vai trò của đào tạo chuyên nghiệp và năng lực (1997), tác giả Henry J. Rothwell: “Phát triển nguồn nhân lực đề cập đến kinh nghiệm học tập có tổ chức do người chủ doanh nghiệp tài trợ. Nó được thiết kế và thực hiện với mục tiêu nâng cao kết quả thực hiện công việc và cải thiện điều kiện con người thông qua việc đảm bảo kết hợp giữa mục tiêu của tổ chức và mục tiêu của cá nhân”.
Phát triển con người là tiến hành nâng cao và mở rộng các phương diện kiến thức, kỹ năng và năng lực nhằm gia tăng kết quả điều hành lẫn công việc. Đây có thể coi như là sự phát triển cá nhân nhưng đồng thời mang lại sự cam kết về tiến bộ nghề nghiệp trong hoạt động tổ chức. Điều hiển nhiên là sự phát triển con người sẽ dẫn đến nâng cao kết quả thực hiện công việc và đem lại nhiều lợi ích cho công ty. Hiệu quả trong điều 14 hành nhân lực tăng lên, khả năng của Nguồn nhân lực cũng tăng lên, mang lại khả năng cạnh tranh cao trên thị trường và nguồn lợi nhuận dồi dào.
Thêm vào đó, sự phát triển còn gắn bó chặt chẽ với các yếu tố văn hóa, sứ mệnh, chiến lược, cơ cấu, chính sách, môi trường làm việc, thực tiễn quản lý và khả năng lãnh đạo trong tổ chức. Điều này được thể hiện trong sơ đồ dưới đây: Phát triển cá nhân Quản lý kết quả thực hiện Kết quả ngắn hạn Phát triển nguồn nhân lực, vai trò và thực tiễn Kết quả Phát triển nghề nghiệp Phát triển tổ chức dài hạn Hình 1.1: Các nguyên tắc của mô hình phát triển nguồn nhân lực (Nguồn: The Jerry W. Gilley 2002) Mô hình trên thể hiện mối liên quan của 4 yếu tố trong phát triển nguồn nhân lực. Các hoạt động phát triển cá nhân, quản lý kết quả thực hiện công việc tạo ra kết quả nhanh chóng trong thời gian ngắn (thường dưới 1 năm), trong khi đó phát triển nghề nghiệp và phát triển tổ chức đòi hỏi thời gian diễn ra dài hơn.
Nội dung của từng yếu tố được giải thích cụ thể như sau: Phát triển cá nhân: Là phát triển kiến thức, kỹ năng, năng lực dẫn đến thay đổi hành vi, nhu cầu của bản thân biến chuyển phù hợp với công việc hiện tại và nhu cầu của tổ chức. Phát triển cá nhân được thực hiện thông qua các hoạt động học tập chính thức và không chính thức. Trong khi tất cả các tổ chức đều có chương trình đào tạo dành cho nhân viên mới hoặc người thiếu kiến thức, kỹ năng cơ bản, thì phát triển cá nhân là nhu cầu của tất cả tham gia vào chuỗi lao động, không kể nhân viên cấp thấp hay quản lý cấp cao. Phát triển nghề nghiệp: Nhấn mạnh vào sự cần thiết phát hiện ra các mối quan tâm, giá trị, kỹ năng, kiến thức cần có để phát triển phục vụ nghề nghiệp tương lai.
Phát triển nghề nghiệp bao gồm các hoạt động cá nhân như lập kế 15 hoạch nghề nghiệp và hoạt động tổ chức như thiết lập hệ thống tư vấn, phát triển, duy trì trung tâm phát triển nghề nghiệp, cung cấp các hội thảo về phát triển nghề nghiệp, lập kế hoạch về nguồn nhân lực, đánh giá kết quả thực hiện và các chương trình hướng nghiệp. Quản lý kết quả thực hiện công việc: Là việc đảm bảo mỗi cá nhân tham gia vào nguồn nhân lực có đủ kiến thức, kỹ năng, sự động viên và hỗ trợ từ môi trường làm việc để mang lại hiệu quả công việc mong muốn. Phát triển tổ chức: Là việc xây dựng các giải pháp tổ chức đổi mới và sáng tạo liên quan tới văn hóa, cơ cấu, quá trình, sứ mệnh, chính sách và quy trình, thực tiễn quản lý, chiến lược lãnh đạo của tổ chức, nhằm mục tiêu nâng cao năng lực thực tiễn, phát triển và cạnh tranh của tổ chức. Xuất phát từ sự phân tích các khái niệm phát triển nguồn nhân lực, trong luận văn phát triển nguồn nhân lực được định nghĩa như sau: Phát triển nguồn nhân lực là quá trình thúc đẩy việc học tập có tính tổ chức nhằm nâng cao kết quả thực hiện công việc và tạo ra sự thay đổi tích cực thông qua việc thực hiện các giải pháp đào tạo, các sáng kiến và các biện pháp quản lý với mục đích phát triển tổ chức, phát triển cá nhân.
Cơ sở lý luận của khái niệm trên được hiểu như sau: Học tập có tính tổ chức: Là học tập có mục đích, kế hoạch rõ ràng, được khuyến khích thông qua các cơ hội nâng cao trình độ và có sự chuẩn bị cho đánh giá. Nâng cao kết quả thực hiện công việc: Mục tiêu của việc phát triển nguồn nhân lực là gia tăng hiệu quả thực hiện công việc trong hiện tại và tương lai. Do đó, điều cần thiết là cung cấp đúng những kinh nghiệm, kiến thức, kỹ năng mà nhân viên cần bổ sung cả trong ngắn hạn và dài hạn. Các giải pháp đào tạo, phát triển: Cung cấp hình thức đào tạo và phát triển phù hợp và đặc trưng cho mỗi bộ phận nhân lực mà trước đó đã được phân loại và đánh giá đúng trình độ.
Điều quan trọng là phát hiện ra các nguồn (nhân) lực tiềm năng cho sự phát triển của tổ chức và không ngừng bồi đắp, gia tăng các chương trình đào tạo thiết thực cho đội ngũ này. 16 Các sáng kiến và các biện pháp quản lý: Trong một tổ chức, kết quả công việc không chỉ phụ thuộc vào việc đào tạo, phát triển nguồn nhân lực mà còn liên quan đến công tác quản lý, đổi mới sáng kiến. Một lực lượng lao động đủ năng lực chuyên môn và kỹ năng nếu thiếu những biện pháp quản lý phù hợp dễ dẫn đến lãng phí tài năng, thời gian cũng như nguồn lực tổ chức mà không thu được hiệu quả cao. Việc tạo ra môi trường làm việc cởi mở, hỗ trợ từ công tác quản lý như động viên khuyến khích người lao động, phân công công việc, bổ nhiệm phù hợp sẽ có tác dụng động viên to lớn tới nguồn nhân lực và hiệu suất hoạt động của tổ chức.
Phát triển tổ chức: Đây là mục tiêu cuối cùng của bất cứ doanh nghiệp, tổ chức nào khi tiến hành xây dựng và phát triển nguồn nhân lực. Để làm vậy, mục tiêu chung của tổ chức cần được làm rõ để xây dựng sự ủng hộ và niềm tin của nhân lực, nhằm phát triển và đào tạo họ đủ kỹ năng, kiến thức để thực hiện nó. Phát triển cá nhân: Mục tiêu của việc phát triển cá nhân là trang bị và bồi đắp thêm kiến thức, kỹ năng, năng lực của nguồn nhân lực nói chung và mỗi cá nhân người lao động nói riêng. Từ đó thay đổi hành vi đáp ứng được những đòi hỏi của công việc hiện tại và mục tiêu phát triển của tổ chức trong tương lai.
Như vậy phát triển nguồn nhân lực sẽ góp phần làm thay đổi cơ cấu, hiệu quả hoạt động của tổ chức song song với sự trưởng thành, phát triển của mỗi cá nhân người lao động. Các nhân tố tác động đến quá trình phát triển nguồn nhân lực như lương thưởng, phúc lợi, hoạt động đoàn - hội nên được xem xét, cân nhắc, đưa ra hoạt động phù hợp để có ảnh hưởng tích cực đến nguồn nhân lực. Khái niệm về cán bộ quản lý trong doanh nghiệp Trong luận văn này, khái niệm đội ngũ cán bộ quản lý được định nghĩa: đội ngũ cán bộ quản lý bao gồm những người thực hiện các chức năng quản lý trong bộ máy của một tổ chức, nhằm đạt được những mục tiêu của tổ chức với kết quả và hiệu quả cao.