CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ VÂN TẢI KHÁCH CÔNG CỘNG 1.TỔNG QUAN VỀ VẬN TẢI HÀNH KHÁCH 1. Một số khái niệm - Dịch vụ và phát triển dịch vụ + Trong kinh tế học, dịch vụ được hiểu là những thứ tương tự như hàng hóa nhưng là phi vật chất. + Philip Kotler cho rằng: “ Dịch vụ là mọi hành động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu một cái gì đó. Sản phẩm của nó có thể có hay không gắn liền với một sản phẩm vật chất”.TS Nguyễn Văn Thanh cho rằng: “Dịch vụ là một hoạt động lao động sáng tạo nhằm bổ sung giá trị cho phần vật chất và làm đa dạng hoá, phong phú hoá, khác biệt hoá, nổi trội hoá… mà cao nhất trở thành những thương hiệu, những nét văn hoá kinh doanh và làm hài lòng cao cho người tiêu dùng để họ sẵn sàng trả tiền cao, nhờ đó kinh doanh có hiệu quả hơn”.
+ Như vậy, dịch vụ là hoạt động có ích của con người tạo ra những sản phẩm dịch vụ, không tồn tại dưới hình thái sản phẩm, không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu nhằm thỏa mãn đầy đủ, kịp thời, thuận tiện và văn minh các nhu cầu sản xuất và đời sống xã hội của con người. + Phát triển dịch vụ là làm gia tăng lượng khách hàng sử dụng dịch vụ, gia tăng lượng cung cấp, gia tăng các kênh phân phối. nhằm gia tăng về lượng giá trị và hiệu quả của nhà cung cấp dịch vụ cung cấp cho khách hàng. - Dịch vụ vận tải hành khách công cộng + Dịch vụ vận tải là những dịch vụ liên quan đến việc phục vụ và khai Luan van 8 thác các hoạt động vận tải, bao gồm vận tải hàng không, vận tải đường thủy, đường sắt và đường bộ.
+ Dịch vụ vận tải hành khách là những dịch vụ liên quan đến việc phục vụ và khai thác các yếu tố nhằm phục vụ cho nhu cầu đi lại của con người. + Xét theo tính chất xã hội của đối tượng phục vụ thì VTKCC là loại hình vận tải phục vụ chung cho xã hội, mang tính chất công cộng trong đô thị, bất luận nhu cầu đi lại thuộc về nhu cầu gì (nhu cầu thường xuyên, ổn định, phục vụ chất lượng cao,…). + Xét theo tính chất của phục vụ vận tải( không theo đối tượng phục vụ) thì VTKCC là loại hình vận chuyển khách trong đô thị và có thể đáp ứng khối lượng lớn nhu cầu đi lại của mọi tầng lớp dân cư một cách thường xuyên, lien tục theo thời gian xác định, theo hướng và theo tuyến ổn định trong từng thời kỳ nhất định. + Ở Việt Nam, Bộ Giao thông vận tải đã định nghĩa về VTKCC như sau “VTKCC là tập hợp các phương thức, phương tiện vận tải, vận chuyển hành khách đi lại trong thành phố ở dự li dưới 60 Km và có sức chứa trên 17 hành khách (không kể lái xe)”.
Với định nghĩa này bị giới hạn cự li đi lại, không phù hợp với các đô thị lớn. Từ những khái niệm trên ta có thể khái quát + VTKCC là tập hợp những phương thức, phương tiện vận chuyển hành khách trong đô thị, có thể đáp ứng khối lượng lớn nhu cầu đi lại của mọi tầng lớp dân cư một cách thường xuyên, liên tục, theo thời gian, hướng tuyến xác định. - Phát triển dịch vụ vận tải hành khách công cộng + Phát triển dịch vụ vận tải hành khách công cộng là gia tăng giá trị dịch vụ bằng việc mở rộng quy mô cung ứng, nâng cao chất lượng dịch vụ, mở rộng mạng lưới và đa dạng hóa chủng loại dịch vụ cho khách hàng nhằm Luan van 9 mang lại hiệu quả cao hơn cho các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ. - Dịch vụ vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt + VTKCC bằng xe buýt là hoạt động vận tải khách bằng ô tô theo tuyến cố định và có các điểm dừng, đón trả khách và xe chạy theo biểu đồ vận hành trong phạm vi nội thành, nội thị, phạm vi tỉnh hoặc trong phạm vi giữa hai tỉnh liền kề.
Phân loại dịch vụ vân tải hành khách công cộng - Căn cứ vào đặc thù dịch vụ vận tải hành khách đường bộ được phân thành các loại hình sau: + Dịch vụ vận tải hành khách đường bộ theo tuyến cố định có xác định điểm đi, bến đến với lịch trình, hành trình nhất định. + Dịch vụ vận tải hành khách đường bộ bằng xe buýt theo tuyến cố định có các điểm dừng đón, trả khách và xe chay theo biểu đồ vận hành với cự ly, phạm vi hoạt động nhất định. + Dịch vụ vận tài hành khách đường bộ bằng xe taxi có lịch trình và hành trình theo yêu cầu của khách hàng, cước tính theo đồng hồ tính tiền. + Dịch vụ vận tải hành khách đường bộ theo hợp đồng, phục vụ không tho tuyến cố định mà được thực hiện theo hợp đồng vận tải.
Đối với vận tải khách công cộng bằng xe buýt - Căn cứ vào không gian hoạt động, có thể chia thành các loại tuyến xe buýt như sau: + Tuyến xe buýt đô thị: Tuyến xe buýt có điểm đầu và điểm cuối trong đô thị. + Tuyến xe buýt nội tỉnh: Tuyến xe buýt hoạt động trong phạm vi Tỉnh, nối các thành phố, thị xã, huyện, khu công nghiệp, khu du lịch trong tỉnh. + Tuyến xe buýt lân cận: Tuyến xe buýt đi từ các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đến các tỉnh lân cận, các khu công nghiệp, khu du lịch Luan van 10 ( điểm đầu, điểm cuối và lộ trình không vượt quá 2 tỉnh, thành phố, nếu điểm đầu và điểm cuối thuộc đô thị loại đặc biệt thì tuyến không vượt quá 3 tỉnh, thành phố và không vượt quá 60 Km) 1. Đặc điểm của dịch vụ vận tải hành khách công cộng - Sử dụng phương tiện giao thông đường bộ để vận chuyển con người nên có tính an toàn cao.
- Quá trình sản xuất và tiêu dùng dịch vụ vận tải hành khách xảy ra đồng thời, với sự tham gia của hành khách và người vận tải. - Chi phí đầu tư ban đầu rất lớn, doanh thu nhỏ, lẻ. - Chi phí dịch vụ vận tải hành khách công cộng sẽ khác nhau theo từng loại dịch vụ, và khác nhau khi cùng loại dịch vụ nhưng chủng loại phương tiện khác nhau. Ý nghĩa của việc phát triển dịch vụ vận tải hành khách công cộng - Tạo tiền đề cho việc phát triển chung của đô thị.
- Là phương thức vận tải chủ yếu để tiết kiệm thời gian đi lại và chi phí tài chính của người dân đô thị, góp phần tăng năng suất lao động xã hội. - Góp phần giảm thiểu tác động tiêu cực của phương tiện cơ giới cá nhân. - Tiết kiệm chi phí đầu tư cho việc đi lại của người dân. - Góp phần đảm bảo trật tự, ổn định xã hội.
NỘI DUNG CỦA PHÁT TRIỂN VẬN TẢI HÀNH KHÁCH Doanh nghiêp cung cấp dịch vụ nhận ra rằng, quá trình cải thiện hiệu quả kinh doanh bao gồm việc nhấn mạnh lại vấn đề phát triển dịch vụ. Phát triển dịch vụ thông không chỉ cung cấp tiềm lực gia tăng lợi nhuận mà còn thông qua những thử thách mới vầ lợiích mới để mang lại sức sống mới cho doanh nghiệp. Nhấn mạnh lại vấn đề phát triển dịch vụ không có nghĩa là coi nhẹ hiệu suất kin doanh mà đừng để vấn đề hiệu suất kinh doanh chiếm chủ đạo. Đối với một chiến lược dài hạn thành công thì cả hai mặt đó đều cần thiết.
Phát triển quy mô dịch vụ - Phát triển quy mô dịch vụ vận tải hành khách công cộng là làm gia tăng lượng khách hàng sử dụng dịch vụ, gia tăng lượng dịch vụ cung ứng, gia tăng mạng lưới cung cấp,. nhằm gia tăng về lượng giá trị mà nhà cung cấp dịch vụ cung cấp cho khách hàng. - Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, nhu cầu sử dụng dịch vụ vận tải hành khách đường bộ không ngừng gia tăng cả về tần suất cũng như chủng loại. Nhu cầu sử dụng nhiều loại dịch vụ hiện đại hơn, có nhiều tiện ích hơn cho khách hàng.
Vì vậy, các doanh nghiệp phải luôn phát triển quy mô dịch vụ của mình để đáp ứng được nhu cầu của khách hàng, đồng thời có thể mở rộng và gia tăng thị phần của mình nhằm mang lại hiệu quả kinh doanh cho doanh nghiệp. - Việc phát triển quy mô dịch vụ vận tải hành khách đuờng bộ được xem xét dựa trên các yếu tố sau: Giá trị sản lượng - Giá trị sản luợng của ngành dịch vụ vận tải hành khách đường bộ là kết quả đạt được trong hoạt động kinh doanh sau một chu kỳ nhấtđịnh và được thể hiện bằng tổng doanh thu của ngành. - Giá trị sản luợng và sự gia tăng giá trị sản luợng hằng năm từ các hoạt động của doanh nghiệp cung ứng dịch vụ VTHK đường bộ không ngừng gia tăng. Đây là kết quả tổng hợp của sựđa dạng, sự phát triển vàđuơng nhiên là cả chất luợng dịch vụ cũng phảiđược tăng lên.
Bởi nếu chất luợng không đuợc nâng cao, không đảm bảo thì sựđa dạng và phát triển các dịch vụ sẽ không có ý nghĩa và không được khách hàng chấp nhận. - Tổng giá trị của ngành dịch vụ vận tải hành khách thể hiện sự phối hợp các nguồn lực, các yếu tố sản xuất. Nó thể hiện sự lớn mạnh về vốn, lao động, máy móc thiết bị, công nghệ và lợi thế sản xuất kinh doanh. Nếu các nguồn Luan van 12 lực này được tăng cường đầu tư đồng bộ thì tổng giá trị của ngành ngày càng phát triển.
- Gia tăng khối lượng, lượng vận chuyển - Khối lượng hành khách(HK) đường bộ là lượng hành khách mà phương tiện chở được, nhưng không xét tới khoảng cách vận chuyển. Chỉ tiêu nàyđược tính bằng hành khách, và thườngđược kí hiệu là Q. - Lượng hành khách đường bộ luân chuyển là lượng hành khách vận chuyển trên một khoảng cách nhất định. Chỉ tiêu nàyđược tính bằng HK.Km và thườngđược kí hiệu là P.
Cách tính như sau: P=Q.Lbq Trong đó: Lbq là cự ly vận chuyển bình quân. Gia tăng khối lượng hành khách đường bộ bằng việc tăng cường số chuyến, rút ngắn các công đoạn khác nhằmđưa phương tiện vào hoạt động nhanh hơn để gia tăng số chuyến nhằm tăng khối lượng hành khách được vận chuyển lên. - Lượng hành khách luân chuyểnđượcđánh giá như là một khái niệm về hiệu quả trong dịch vụ vận tải hành khách đường bộ, lượng hành khách luân chuyểnđược tính là nghìn người trên một Km.