Chương 1 trình bày cơ sở lý thuyết về ứng dụng hệ thống BRT trên thế giới (Bogotá, Curitiba, Nayoga), thấy được các lợi ích của BRT, so sánh chi phí và năng lực chuyên chở của BRT so với mê trô, LRT, tàu điện, thời gian xây dựng và phương hướng phát triển xe buýt BRT trên thế giới. Từ các kinh nghiệm của thế giới, đề tài sẽ nghiên cứu và ứng dụng hệ thống BRT cụ thể vào hành lang đoạn An Sương- Suối Tiên, một tuyến đường thường xuyên bị ùn tắc trong giờ cao điểm, phù hợp trong điều kiện thực tế tại Tp. Hồ Chí Minh. Khái niệm vận tải nhanh bằng xe buýt (BRT): Vận tải nhanh bằng xe buýt - Bus Rapid Tranit (gọi tắt là BRT), là một dịch vụ vận tải đô thị khối lượng lớn sử dụng xe buýt (thay vì đường sắt) chạy trên các lộ giới dành riêng (lộ giới riêng biệt).
Về bản chất BRT đạt được năng lực chuyên chở hành khách cao và mức độ dịch vụ có tính tiện nghi của một hệ thống vận tải đường sắt hiện đại mà chi phí lại thấp. Chìa khóa để dẫn đến thành công này là việc đảm bảo rằng các xe buýt ít bị trì hoãn bởi các phương tiện khác (hoặc bởi các xe buýt khác); việc lên xuống xe của hành khách diễn ra nhanh chóng và hiệu quả, và các xe buýt với năng lực chuyên chở lớn được sử dụng trên các hành lang có nhu cầu giao thông rất cao. Ngày nay, BRT đang được triển khai ngày càng nhiều bởi các thành phố đang đi tìm các giải pháp vận tải công cộng có lợi về mặt chi phí. Tại các thành phố Nam Mỹ, BRT đã khai thác trong nhiều năm, nhưng chỉ mới gần đây các lợi ích của phương thức này mới bắt đầu được công nhận ở các nước khác trên thế giới.
Kết quả là, hệ thống BRT đã được triển khai ở Úc, Pháp, Đức, Hà Lan và nhiều thành phố ở Mỹ. Nhiều thành phố trên thế giới gần đây đang nghiên cứu BRT như một giải pháp cho vận tải công cộng. Các tính chất, đặc điểm của BRT, vốn đã giúp BRT thành công ở các thành phố mà đã được triển khai, bao gồm: Trường ĐH Giao Thông Vận Tải ‐ 13 - Luận Văn Thạc Sỹ Kỹ Thuật Khuất Thị Hạnh Có lộ giới dành riêng, được gọi là “đường xe buýt”, giảm bớt sự chậm trễ do giao thông khác; Các biện pháp ưu tiên xe buýt khi vận hành trên các đường và giao lộ thường; Tốc độ cao, khả năng tin cậy và dự báo trước cao; Xe buýt với năng lực chuyên chở lớn; Các mức độ cao của tính hiệu quả về chi phí trong việc vận chuyển người; Các chi phí cơ sở hạ tầng ít hơn nhiều so với xe điện ngầm hoặc đường sắt trên cao; Các trạm xe buýt kiểu đường sắt với các khu vực chờ có mái che; Cửa xe rộng kiểu metro cho phép lên xuống xe nhanh chóng ; Sàn xe buýt cao bằng sàn nhà chờ cho phép lên xe nhanh chóng và hỗ trợ cho người khuyết tật; Xe buýt sàn cao nhằm tối đa hóa năng lực chuyên chở của xe (chỗ ngồi); Soát vé trước khi lên xe nhằm tăng tốc độ của xe buýt; Thiết kế hình dáng xe buýt tiên tiến nhằm tạo ra đặc điểm nhận dạng (marketing) tích cực cho hệ thống; Các ứng dụng công nghệ thông tin tiên tiến như thông tin hành khách, thời gian xe buýt đến thực tế v.v, nhằm nâng cao và khuyến khích việc sử dụng hệ thống ; Linh hoạt trong việc cho phép xe buýt tham gia hoặc rời khỏi đường dành riêng xe buýt nhằm tạo điều kiện thuận tiện cho việc trung chuyển giữa các tuyến; Linh hoạt trong thiết kế và chi phí cho phép triển khai các phương thức vận tải công cộng khác trong tương lai; Tái tổ chức mạng lưới xe buýt hiện tại nhằm bổ sung cho hệ thống BRT. Một số hình ảnh BRT ở các thành phố trên thế giới: (Nguồn: MVA) BRT ở Nogota (Nhật Bản) Bến xe BRT ở Bogotá (Colombia) Trường ĐH Giao Thông Vận Tải ‐ 14 - Luận Văn Thạc Sỹ Kỹ Thuật Khuất Thị Hạnh BRT ở Curitiba (Brazil) BRT ở Bangkoc BRT ở Mỹ 1.
Sơ lược lịch sử và ứng dụng xe buýt nhanh (BRT) trên thế giới: Theo [17] và [18] Lịch sử của BRT là một nỗ lực nhằm đạt được phần nào năng lực chuyên chở hành khách bằng xe buýt. Sự phát triển quy mô về xe buýt BRT sử dụng công nghệ hiện đại xuất hiện đầu tiên ở Curitiba (Brazil) vào năm 1974. Nhưng, ý tưởng ban đầu về làn ưu tiên cho xe buýt lại xuất hiện ở Mỹ vào những năm 1960. Đường xe buýt chuyên biệt được xây dựng thực sự đầu tiên vào năm 1972 với 7,5 km đường được biết đến là “Via Expresa” ở Lima (Peru).
Một năm sau 1973, đường xe buýt nhanh được xây dựng ở Runcorn (Anh) và Los Angeles (Mỹ). Đường xe buýt nhanh Runcorn dài 22 km đóng vai trò là tuyến buýt trung tâm của thành phố. Hệ thống xe buýt nhanh (BRT) hoàn chỉnh “full” chưa được thực hiện, mãi cho đến khi hệ thống đường dành riêng cho xe buýt được phát triển ở Curitiba (Brazil) vào năm 1974. Trớ trêu thay, thành phố này ban đầu lại mong muốn xây dựng một hệ thống mê trô Trường ĐH Giao Thông Vận Tải ‐ 15 - Luận Văn Thạc Sỹ Kỹ Thuật Khuất Thị Hạnh đường sắt.
Tuy nhiên, kinh phí lại không đủ và kết quả là thành phố này buộc phải đề ra một giải pháp sáng tạo và khả thi hơn. Vì vậy, dưới sự lãnh đạo của Mayor Jaime Lerner, thành phố bắt đầu triển khai phát triển các hành lang xe buýt nhanh xuất phát từ trung tâm thành phố. Lúc đó, giống như các nước Mỹ La Tinh khác, Curitiba có dân số phát triển rất nhanh. Bắt đầu ở mức khoảng 600.000 dân trong những năm đầu 1970, và hiện nay thành phố đã trên 2.
Ngày nay, Curitiba có hệ thống BRT khá hoàn chỉnh. Hệ thống BRT hiện nay, với năm hành lang xe buýt bắt nguồn từ trung tâm thành phố, với 57 km đường buýt dành riêng và 340 km đường buýt nhánh. Hệ thống này hàng năm thu hút hàng trăm nhà quản lý thành phố từ các quốc gia khác đến nghiên cứu đặc điểm tổ chức và thiết kế BRT mà đã giúp cho Curitiba thành công. Mặc dù Curitiba sớm thành công, nhưng nói chung BRT có phần chậm phát triển ở các nơi khác.
Nó chỉ thực sự được biết đến rộng rãi vào cuối những năm 1990. Tham quan các kỹ thuật BRT từ Bogotá (Colombia) và Los Angeles (Mỹ) tới Curitiba đều cho thấy kết qủa rất tốt của việc ứng dụng loại hình xe buýt này. Năm 1996, Quito (Ecuador) đã mở rộng hệ thống xe buýt sử dụng công nghệ xe buýt điện (trolley-bus) và sử dụng công nghệ nhiên liệu sạch. Tuy nhiên, nỗ lực ở Bogotá với hệ thống xe buýt khối lượng lớn đã đặc biệt làm thay đổi nhận thức về BRT trên thế giới.
Với một thành phố lớn (7 triệu dân) (tương đương TP Hồ Chí Minh) và mật độ dân cư đông (240 người/ha) BRT ở Bogotá đã cho thấy rằng năng lực vận chuyển hành khách rất lớn. Ngày nay, cả Bogotá và Curitiba là một mô hình mẫu, có hệ thống BRT rất hiện đại. Năm 1998, nhà quản lý của Cơ quan vận tải liên bang Mỹ - United States Federal Transit Agency (USFTA), Gordon Linton, đã tham quan hệ thống BRT của Curitiba. Chất lượng của hệ thống này, cho phép ông kết luận rằng hệ thống này có thể được ứng dụng ở Mỹ, một nơi có lượng xe ô tô cao nhất thế giới.
Sau chuyến tham quan của Linton, Mỹ đã bắt tay vào một chương trình phát triển BRT quốc gia bao gồm ở 17 thành phố. Ban đầu, hệ thống xe buýt chất lượng cao được đặt ở Chicago, Honolulu, Los Angeles, Miami, Orlando, Philadenphia, Pittsburgh, và Seattle. Tương tự, ở các quốc gia thuộc Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) khác như Úc, Canada, Pháp, Đức, Nhật và Anh đã nhận thấy tầm quan trọng của BRT như là một hệ thống vận chuyến khối lượng lớn có chất lượng cao nhưng có chi phí thấp. Sự phát triển của công nghệ BRT từ các nước thuộc Châu Mỹ La Tinh đến các quốc gia OECD đã tạo cho BRT trở thành một trong những mô hình mẫu nổi tiếng nhất được phát triển từ Nam đến Bắc.
Trường ĐH Giao Thông Vận Tải ‐ 16 - Luận Văn Thạc Sỹ Kỹ Thuật Khuất Thị Hạnh Bảng 1.1 Hệ thống xe buýt chất lượng cao BRT thế giới (năm 2004) (Nguồn [17]: Sourcebook for Policy-maker in Developing cities) Trường ĐH Giao Thông Vận Tải ‐ 17 - Luận Văn Thạc Sỹ Kỹ Thuật Khuất Thị Hạnh Mặc dù các thành phố trên có dịch vụ vận tải khá phát triển, tuy nhiên chỉ có một số thành phố có hệ thống BRT hoàn chỉnh “full” (Bảng 1. Một hệ thống BRT “full” có đặc điểm sau: Đường dành riêng cho xe buýt nằm trên hành lang chính Việc bán và soát vé được thực hiện trước khi lên xe Toàn bộ hệ thống được điều hành bởi một cơ quan quản lý (“closed system”) Xe ứng dụng công nghệ nhiên liêu sạch Miễn vé trung chuyển giữa tuyến nhánh và tuyến chính Bảng 1.2 Các hệ thống BRT “full” thế giới (năm 2004) (Nguồn [17]: Sourcebook for Policy-maker in Developing cities) Các thành phố thuộc Châu Mỹ La Tinh như Bogotá, Curitiba, Goiania, Quito có hệ thống BRT hoàn chỉnh nhất. Hệ thống BRT ở Brisbane (Australia), Ottawa (Canada), và Rouen (France) tốt nhất trong những quốc gia phát triển. Kinh nghiệm về BRT ở Châu Phi và Châu Á có hạn chế hơn về số lượng và phạm vi.
Ở Taipei (Đài Loan) và Nagoya (Nhật Bản) hệ thống BRT hoàn chỉnh hơn các vùng khác ở Châu Á, mặc dù chưa đạt đến mức hiện đại nhất “full” Hình 1.1 mô tả bảy hợp phần chính của hệ thống BRT: đường xe buýt, nhà chờ, xe buýt, dịch vụ, cấu trúc lộ trình, vé, và hệ thống quản lý thông minh (ITS) Trường ĐH Giao Thông Vận Tải ‐ 18 - Luận Văn Thạc Sỹ Kỹ Thuật Khuất Thị Hạnh Hình 1.1 Các hợp phần của hệ thống BRT (Nguồn: [18] TCRP) Trường ĐH Giao Thông Vận Tải ‐ 19 - Luận Văn Thạc Sỹ Kỹ Thuật Khuất Thị Hạnh 1. Lợi ích của BRT: Kinh nghiệm thế giới cho thấy, một hệ thống vận tải công cộng hiệu quả có thể làm nền tảng cho sự phát triển của một thành phố hướng tới bình đẳng xã hội, thịnh vượng kinh tế, và bảo vệ môi trường.