Chương 1: Sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện trong hoạt động thông tin - thư viện tại Trường Đại học Hàng hải Việt Nam Chương 2: Thực trạng sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện tại Trường Đại học Hàng hải Việt Nam Chương 3: Các giải pháp phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện tại Trường Đại học Hàng hải Việt Nam 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: SẢN PHẨM VÀ DỊCH VỤ THÔNG TIN - THƢ VIỆN TRONG HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN - THƢ VIỆN TẠI TRƢỜNG ĐẠI HỌC HÀNG HẢI VIỆT NAM 1. Những vấn đề chung về sản phẩm và dịch vụ thông tin - thƣ viện 1. Khái niệm về sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện SP&DV TT-TV là một hệ thống hết sức năng động, luôn phát triển. SP&DV TT-TV nói chung không phải là kết quả của việc tạo ra những thông tin mới mà chính là kết quả của việc xử lý và hệ thống hóa các nguồn tin đã có.
Qua khai thác hệ thống SP&DV TT-TV NDT lại tạo ra được những thông tin mới. Sản phẩm thông tin – thư viện Theo C.Mác, sản phẩm là kết quả của quá trình lao động dùng để phục vụ cho việc làm thoả mãn nhu cầu của con người. Trong nền kinh tế thị trường người ta quan niệm sản phầm là bất cứ cái gì đó có thể đáp ứng nhu cầu thị trường và đem lại lợi nhuận. Theo quan điểm Marketing, sản phẩm là thứ có khả năng thoả mãn nhu cầu mong muốn của khách hàng, cống hiến những lợi ích cho họ và có thể đưa ra chào bán trên thị trường và khả năng thu hút sự mua, sự chú ý mua sắm và tiêu dùng.
Theo đó sản phẩm được cấu tạo và hình thành từ hai yếu tố cơ bản sau: - Yếu tố vật chất, ví dụ: các bộ phận lắp ghép hoặc vật liệu đã chế biến - Yếu tố phi vật chất, ví dụ: thông tin, tri thức, khái niệm hoặc tổ hợp của chúng. Theo quan điểm này, sản phẩm vừa là cái đã có vừa là cái đang và tiếp tục phát sinh trong trạng thái biến đổi không ngừng của nhu cầu. Ngày nay người tiêu dùng hiện đại khi mua một sản phẩm không chỉ chú ý đến khía cạnh vật chất mà còn quan tâm tới nhiều khía cạnh phi vật chất, khía cạnh hữu hình và các yếu tố vô hình của sản phẩm. Trong các tài liệu nghiệp vụ về hoạt động TT-TV, gần đây đã xuất hiện phổ biến các thuật ngữ sản phẩm thông tin, dịch vụ thông tin…Về nguyên tắc, các thuật ngữ trên được tạo ra trên cơ sở sự phát triển và vận dụng các khái niệm “sản phẩm” 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com và “dịch vụ” đã từng phổ biến trong các lĩnh vực: kinh tế học, thực tiễn hoạt động sản xuất, kinh doanh… của xã hội.
Dựa vào tính chất lao động tại các cơ quan TT-TV thì sản phẩm thông tin - thư viện (SP TT-TV) là kết quả của qúa trình xử lý thông tin, do cá nhân, tập thể thực hiện nhằm thoả mãn nhu cầu của NDT. Quá trình lao động để tạo ra SP TT-TV chính là qúa trình xử lý thông tin, bao gồm biên mục, phân loại, định từ khoá, tóm tắt, chú giải, biên soạn tổng quan cũng như các quá trình phân tích, tổng hợp thông tin khác. SP TT-TV có đáp ứng được nhu cầu của NDT chính xác và đầy đủ hay không phần lớn phụ thuộc vào nguồn tin. Do đó nguồn tin có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động thông tin.
Mức độ thoả mãn nhu cầu thông tin của những sản phẩm khác nhau cũng rất khác nhau. Các sản phẩm thông tin thư mục có khả năng thoả mãn những nhu cầu tra cứu thông tin về tài liệu. Các sản phẩm thông tin dạng dữ kiện, toàn văn, tổng thuật…có khả năng thoả mãn nhu cầu về chính bản thân thông tin. SP TT-TV có những điểm khác biệt với những sản phẩm thông thường và cũng được hiểu như một loại hàng hoá đặc biệt.
Giá cả của SP TT-TV = giá của vật mang tin + giá trị của thông tin. Một thực tế khách quan hiện nay là các cơ quan TT-TV đang phải đương đầu với điều kiện phục vụ ngày càng trở nên khắt khe hơn: - Sự phát triển nhanh chóng của tiến bộ khoa học và công nghệ làm nảy sinh nhu cầu mới; - Sự đòi hỏi và lựa chọn ngày càng khắt khe của NDT đối với các loại sản phẩm thông tin được chuyển tải qua các phương thức khác nhau; - Khả năng thay thế nhau của các sản phẩm; - Sự gia tăng không ngừng của các nguồn thông tin cả về nội dung và hình thức. Như vậy, lý do tồn tại của một thư viện hay cơ quan TT-TV là cần phải đáp ứng nhu cầu thông tin của cộng đồng xã hội thông qua sản phẩm của nó. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com * Một số đặc trƣng của Sản phẩm thông tin - thƣ viện - Chu kỳ sống Mỗi loại SP TT-TV đều có một chu kỳ sống tương ứng, đó là được tạo ra, tăng trưởng, suy giảm và cuối cùng được thay thế.
- Những sản phẩm mới là cần thiết cho sự phát triển Trong xu thế đổi mới toàn diện tất cả các mặt của đời sống ngày nay, sự đổi mới đã trở thành tất yếu trong mọi lĩnh vực. Thực tế đã chỉ ra rằng những cơ quan TT-TV đang phát triển hiện nay là những cơ quan đã xây dựng kế hoạch và triển khai các SP TT-TV mới. + Những nhân tố khách quan thúc đẩy việc phát triển sản phẩm mới Có thể nêu một số nhân tố khách quan có ý nghĩa quyết định thúc đẩy phát triển những SP TT-TV mới, đó là: Những sự tiến bộ của khoa học - kỹ thuật, sự thay đổi nhu cầu và thói quen, những chu kỳ sống của sản phẩm bị rút ngắn, và việc gia tăng sự cạnh tranh quốc tế. + Sự lựa chọn sử dụng thông tin gia tăng Trong những năm gần đây, NDT có quyền lựa chọn SP TT-TV từ các nguồn thông tin khác nhau một cách rộng rãi hơn.
Đặc biệt, trong điều kiện phát triển mạnh mẽ các phương tiện truyền thông và Internet, NDT có thể tìm kiếm thông tin mọi lúc, mọi nơi không bị hạn chế bởi không gian và thời gian. - Môi trường tồn tại và nguồn tài nguyên Thực tế ngày nay khối lượng thông tin gia tăng nhanh chóng dẫn tới việc khó khăn trong việc xử lý thông tin và sử dụng tài liệu. Một cơ quan thông TT-TV dù có tiềm lực lớn đến đâu cũng khó có thể thu thập được đầy đủ các ấn phẩm xuất bản. Điều này bắt buộc các cơ quan phải có chính sách phát triển các SP TT-TV phù hợp và sử dụng nguồn nhân lực có trình độ để tổ chức phát triển các sản phẩm đồng thời cần phải thực hiện chia sẻ nguồn lực với các cơ quan TT-TV khác.
Trong những điều kiện đó, các cơ quan TT-TV phải không ngừng đổi mới và tự hoàn thiện mình trên tất cả phương diện: tăng cường nguồn lực thông tin, đa dạng hóa các SP TT-TV, đa dạng hóa phương thức phục vụ, sự ứng xử nhanh nhạy với những biến động của môi trường thông tin. 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Dịch vụ thông tin – thư viện Dịch vụ là một thuật ngữ được sử dụng chủ yếu trong lĩnh vực kinh tế học và hoạt động của nhiều lĩnh vực xã hội. Dịch vụ trong kinh tế học được hiểu là những thứ tương tự như hàng hoá nhưng là phi vật chất.
Dịch vụ là một hoạt động bao gồm các nhân tố không hiện hữu, giải quyết các mối quan hệ giữa khách hàng hoặc tài sản mà khách hàng sở hữu với người cung cấp mà không có sự chuyển giao quyền sở hữu. Theo Philip Kotler, dịch vụ là mọi hành động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu cái gì đó. Sản phẩm của nó có thể có hay không gắn liền với sản phẩm vật chất. Dịch vụ do con người tao ra như một kết quả tự nhiên.
Do nhu cầu đa dạng tuỳ theo sự phân công lao động nên có nhiều loại dịch vụ: dịch vụ phục vụ sản xuất, dịch vụ kinh doanh, dịch vụ phục vụ sinh hoạt cộng đồng, dịch vụ gia đình, dịch vụ y tế… Trong hoạt động TT-TV dịch vụ ra đời cùng với sự hình thành của các cơ quan TT-TV. Cùng với sự phát triển của hoạt động TT-TV, dịch vụ thông tin - thư viện (DV TT-TV) ngày càng đa dạng hơn nhằm đáp ứng nhu cầu khai thác thông tin của NDT. DV TT-TV bao gồm những hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu đọc nói riêng, nhu cầu thông tin và trao đổi thông tin của NDT nói chung. Hiệu quả của dịch vụ là tiêu chí quan trọng để đánh giá hiệu quả hoạt động của các cơ quan TT-TV.
Nhu cầu thông tin và nhu cầu trao đổi thông tin thuộc nhóm nhu cầu tinh thần. Có nhu cầu chỉ cần ở mức giúp người sử dụng trao đổi được thông tin, trong khi đó, có nhu cầu ngoài việc trao đổi thông tin, người sử dụng dịch vụ còn cần được cung cấp những thông tin cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của họ [22, tr. Bản thân DV TT-TV được xem như là các hoạt động bao gồm: chọn lọc, xử lý, lưu trữ và phổ biến thông tin ở tất cả các dạng có thể như bằng lời nói, văn bản, âm thanh…nhưng bản chất của dịch vụ thông tin là cung cấp, là phổ biến thông tin. Dịch vụ tạo nên sự gắn bó hữu cơ giữa cơ quan thông TT-TV - Người cung cấp, thực hiện dịch vụ - NDT.
Hoạt động này được hình thành nhằm đáp ứng nhu cầu dùng tin ngày càng cao. 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo giáo trình “Sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện” của tác giả Trần Mạnh Tuấn thì DV TT-TV được định nghĩa: “Dịch vụ TT-TV bao gồm những hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu thông tin và trao đổi thông tin của người sử dụng các cơ quan TT-TV nói chung.24-25] Mục tiêu quan trọng nhất của DV TT-TV là giúp các cơ quan TT-TV nâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu khai thác thông tin và giúp NDT tiếp cận, sử dụng có hiệu quả thông tin vào các hoạt động của mình. * Một số đặc tính của Dịch vụ thông tin - thƣ viện - Tính đồng thời Việc tạo ra các DV TT-TV và cung cấp các dịch vụ ấy cho NDT được diễn ra đồng thời.