Chương 1: Cơ sở lý luận về lãi suất và chính sách lãi suất chiết khâu sẽ tác động làm cho lãi suất cho vay của các NHTM, TCTD tăng. Từ đó giới hạn khả năng cho vay của các NHTM, TCTD. Mức cung ứng tiền tệ cũng sẽ bị giảm đi. Khi NHTW giảm lãi suất chiết khấu sẽ tác động làm giảm lãi suất cho vay của các NHTM, TCTD.
Từ đó làm tăng khả năng cho vay của các NHTM, TCTD, qui mô tín dụng tăng lên, tiền cung ứng ra lưu thông nhiều hơn. Tuy nhiên, lãi suất chiết khấu vả lãi suất tái cấp vốn lại mang tính thụ động vì NHTW chỉ có thể khuyến khích chứ không bắt buộc các NHTM vay vốn của mình theo mục tiêu đã để ra. Hơn nữa, các công cụ này khó đảo ngược tình thế do hiệu ứng thông báo chỉ phát huy tác dụng khi lãi suất chiết khấu phù hợp với mức lãi suất trên thị trường. Một hạn chế nữa của công cụ này là hoạt động tái cấp vốn chỉ mới dừng lại ở mục đích bể sung nguồn vốn ngắn hạn và phương tiện thanh toán cho các tổ chức tín dụng.
Hiệu lực can thiệp của công cụ này đến thị trường tiền tệ chưa cao và mối liên hệ giữa công cụ tái cấp vốn và tổng phương tiện thanh toán chưa rõ ràng. Các chức năng nhằm điều chỉnh quá trình phát triển kinh tế về quy mô và cơ cấu đầu tư dựa trên sự cấp vốn theo thời gian, theo lĩnh vực ngành kinh tế, theo từng vùng lãnh thổ vẫn chưa được phát huy.2 Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản được hình thành khác nhau tùy từng nước, nó có thể do NHTW ấn định. Chẳng hạn tại Nhật Bán, lãi suất cơ bản là mức lãi suất cho vay thấp nhất; còn tại Mỹ, Anh, Úc thì lãi suất cơ bản do bản thân các ngân hàng tự xác định căn cứ vào tình hình hoạt động cụ thể của ngân hàng mình và đó là mức lãi suất được áp dụng cho các khách hảng có mức rủi ro thấp nhất, hoặc tại Malaysia thì căn cứ vào mức lãi suất cơ bản của một số ngân hàng đứng đầu, các ngân hàng khác thì cộng trừ biên độ dao đông theo mội tỷ lệ phần trăm nhất định đề hình thành lãi suất cơ bản của mình. Một số nước lại sử dụng lãi suất liên ngân hàng làm lãi suất cơ bản như ở Singapore, Pháp.
Mặc dù khác nhau nhưng lãi suất cơ bản ở hầu hết các nước đều hình thành trên cơ sở thị trường và đó là lãi suất tối thiểu bù đắp được lãi suất cho vay và có một mức lợi nhuận bình quân cho phép. Về ưu điểm, lãi suất cơ bản là công cụ có tác dụng nhanh, mạnh đến nền kinh tế và là cơ sở để ấn định lãi suất kinh doanh, tính toán trong hoạt động của các TCTD. Việc điều hành lãi suất theo những diễn biến trên thị trường có thể giúp NHTM định hướng được mức lãi suất hợp lí, tạo nên mặt bằng lãi suất huy động và cho vay đảm bảo hải hòa lợi ích giữa người gởi và người đi vay. Trang 14 Chương l: Cơ sở lý luận về lãi suất và chính sách lãi suất Hơn thế nữa, lãi suất cơ bản là lãi suất chỉ mang tính tham khảo, còn việc ấn định mức lãi suất kinh doanh như thế nào thì tùy thuộc vào các TCTD, phụ thuộc vào tính tự chủ của các ngân hàng, vốn tự có, công nghệ, năng lực quản lí, năng lực cạnh tranh.Đồng thời các ngân hàng với quyền được áp dụng mức lãi suất cạnh tranh sẽ hút tiền về hiệu quả hơn, qua đó làm giảm áp lực lạm phát trên thị trường và tăng hiệu quả kinh doanh.
Bên cạnh những ưu điểm trên thì lãi suất cơ bản vẫn có những hạn chế nhất định. Đó là nếu NHTW sử dụng công cụ này một cách cứng nhắc thì nó sẽ trở thành công hành chính quản lí tín dụng theo phương pháp trực tiếp. Điều này có nghĩa là việc thay đổi lãi suất cơ bản đồng nghĩa với việc thay đổi lãi suất trần cho vay đối với các TCTD và sẽ không phản ánh chính xác mức lãi suất trên thị trường. Còn nếu tự do hóa lãi suất có nghĩa lãi suất cơ bản không có vai trò điều tiết, hướng dẫn thì sẽ dẫn đến sự cạnh tranh giữa các NHTM.
Nhưng điều này lại tạo lợi thế cho các NHTM Nhà nước do có nguồn vốn lớn và được bảo hộ nhiều hơn. Việc điều hành lãi suất như vậy làm nhu cầu về vốn tăng lên một cách giá tạo vì các doanh nghiệp tập trung vào những NHTM có lãi suất cho vay thấp. Điều này làm hiệu quả cho vay không cao, nhu cầu đầu tư cũng không tăng và gây ảnh hưởng không tốt đến nền kinh tế.3 Nghiên cứu chính sách lãi suất của một số quốc gia 1.1 Chính sách lãi suất của FED Về cơ bản, FED hiện đang điều hành lãi suất thông qua hai công cụ quan trọng là lãi suất chiết khấu (discount rate) và lãi suất quỹ dự trữ liên bang (Federal funds rate - FFR). Ra đời muộn hơn so với công cụ lãi suất chiết khấu (được sử dụng từ giai đoạn đầu ngay sau khi FED được thành lập), mãi đến những năm 1920, FFR mới được FED thiết lập.
FFR có tên gọi là quỹ dự trữ liên bang vì nguồn tiền để cho các trung gian tài chính nhận tiền gửi (đepository institutions) vay qua đêm (nhằm đảm bảo đủ dữ trữ bắt buộc theo quy định) được FED lấy từ quỹ dự trữ liên bang — là quỹ được hình thành từ số tiền dự trữ bắt buộc của tất cả các trung gian tài chính nhận tiền gửi. FFR được Ủy ban thị trường mở (FOMC) công bố sau các phiên họp định kì và nó không mang tính chất ấn định cụ thể mà thực chất chỉ là lãi suất mục tiêu (target rate) dé FED thực hiện giao dịch trên thị trường mở. Mặc dù các trung gian tài chính nhận tiền gửi có thể vay mượn lẫn nhau để bù đắp thiếu hụt dự trữ bắt buộc mà không nhất thiết phải vay từ FED nhưng lãi suất từ các khoản vay lẫn nhau (lãi suất liên ngân hàng) thường cao hơn FER vì vấn đề rủi ro. Bởi vì khi FED cho các trung gian tài chính vay tiền để bù đắp thiếu hụt dự trữ bắt buộc, Trang 15 Chương 1: Cơ sở lý luận về lãi suất và chính sách lãi suất số tiền đó tuy được hoạch toán báo có vào tài khoản của các trung gian tài chính tại FED nhưng các trung gian tài chính không được phép rút ra ngay cả khi phá sản, do vậy FED không có nguy cơ mất số tiền đã cho vay dưới dạng này.
Khác với FED, khi một trung gian tài chính cho đối tác vay liên ngân hàng, họ phải cắt từ tài khoản tiền gửi của mình chuyền vào tài khoản tiền gửi của đối tác tại FED, từ lúc đó bên cho vay không còn thấm quyên quản lí số tiền này nữa. Vì vậy nguy cơ không thu hồi được tiền cho vay xuất hiện nên lãi suất cho vay đương nhiên phải cao hơn. Với phân tích ở trên, có thể thấy FFR là lãi suất thấp nhất mà các trung gian tài chính nhận tiền gửi có thể vay được (với món vay phi rủi ro), vì vậy lãi suất này có khi được gọi là lãi suất cơ bản hay lãi suất chuẩn (benchmark rate). Bên cạnh nhu cầu đảm bảo dự trữ bắt buộc, các trung gian tài chính còn có nhu cầu dam bao thanh khoản, an toàn chỉ trả.
Lãi suất chiết khấu của FED chính là lãi suất cho các trung gian tài chính vay để đáp ứng các nhu cầu này. Về nguyên tắc, lãi suất liên ngân hàng thông thường sẽ thấp hơn lãi suất chiết khấu vì nếu lãi suất liên ngân hàng cao hơn lãi suất chiết khâu, các trung gian tài chính sẽ không vay liên ngân hàng mà sẽ vay từ FED để được hưởng lãi suất chiết khấu thấp hơn. Lãi suất chiết khâu thường cao hơn EER và có ba mức lãi suất chiết khấu áp dụng cho ba loại cho vay khác nhau là tín dụng chinh (Primary credit), tin dung mo rong (Secondary credit) va tin dụng thời vu (Seasonal credit). FED sir dung lai suất chiết khấu để kiểm soát việc cung tiền để có thể tác động đến lạm phát và lãi suất chung của nền kinh tế.
Lãi suất chiết khấu tín dụng chính được áp dụng những khoản cho vay kì hạn rất ngắn, thường là cho vay qua đêm và sử dụng cho các tổ chức tiền gửi trong điều kiện tài chính tốt. Nếu có sự thay đổi đột ngột về nhu cầu dự trữ thì lãi suất này đóng vai trò là trần cho FER. Các tô chức tiền gửi không đủ tiêu chuẩn của lãi suất chiết khấu tín dụng chính có thể sử dụng lãi suất chiết khấu tín dụng mở rộng dé đáp ứng nhu cầu thanh khoản ngắn hạn hoặc để giải quyết những khó khăn về tài chính. Và loại lãi suất chiết khấu thứ ba là lãi suất chiết khấu tín dụng thời vụ được mở rộng cho các tổ chức tiền gửi tương đối nhỏ mà có sự thay đổi bất thường tuần hoàn trong năm về nhu cầu quỹ dự trữ, chẳng hạn như các ngân hàng trong lĩnh vực nông nghiệp.
Lãi suất chiết khấu tín dụng chính được thiết lập dựa trên lãi suất thị trường trong ngắn hạn và đây cũng chính là lãi suất chiết khấu chính của FED nên FED sử dụng lãi suất chiết khấu cũng có nghĩa đang nói đến lãi suất này. Nhu vay, FED sir dung lãi suất chiết khấu đã ấn định thông qua chương trình cho vay chiết khấu và lãi suất FFR đã công bố thông qua nghiệp vụ thị trường mở. Cách điều hành này của FED sẽ khiến cho lãi suất liên ngân hàng luôn có xu hướng Trang 16 Chương I: Cơ sở lý luận về lãi suất và chính sách lãi suất biến động giữa lãi suất FER (có vai trò như lãi suất sản) và lãi suất chiết khẩu (có vai trò như lãi suất trần) mà không phải đặt ra giới hạn bằng biện pháp hành chính.3: Diễn biến lãi suất chiết khẩu và lãi suất quỹ dự trữ liên bang của FED (Đơn vị: %) 11/12/07 22/01/08 30/01/08 16/03/08 18/03/08 30/04/08 08/10/08 29/10/08 16/12/08 19/02/10 =eLai suat cluét khau —o=Lai suat quit du tit lien bang Nguén: www.org/markets/statistics/dlyrates/fedrate.html (Historical Changes of the Target Federal Funds and Discount Rates - Federal Reserve Bank of New York) Cùng với các chính sách khác, chính sách lãi suất đã được FED sử dụng liên tục để đối phó với tình hình khủng hoảng tài chính toản cầu. Từ đầu năm 2008, FED đã liên tiếp cắt giảm mạnh lãi suất cơ bản.
Ngày 22/01/2008, FED giảm 0,75% lãi suất cơ bản, từ 4.