CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ THẺ THANH TOÁN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 1.1 Tổng quan về Thẻ thanh toán tại các ngân hàng thương mại 1. Lịch sử hình thành và phát triển của Thẻ thanh toán Thẻ thanh toán là một trong những thành tựu của công nghiệp ngân hàng. Sự phát triển của thẻ thanh toán là thành quả của sự đổi mới và khả năng marketing của các chuyên gia Ngân hàng thế giới. Thẻ, với hình dạng như hiện nay xuất hiện đầu tiên ở Mỹ vào những năm đầu thế kỷ 20, nó ra đời năm 1941, khi đó tổng công ty xăng dầu Califonia (nay là công ty Mobil) thực hiện cấp thẻ cho nhân viên và một số khách hàng của mình.
Thẻ này chỉ với mục đích khuyến khích bán sản phẩm của công ty chứ chưa kèm theo một sự dự phòng nào về việc gia hạn tín dụng. Đến năm 1949, Frank Mc Namara và Ralph Schneider, hai doanh nhân người Mỹ đồng sáng lập ra Diners’Club sau một lần đi ăn ở nhà hàng và quên đem theo tiền mặt. Sau đó họ đã cung cấp cho bạn bè, đồng nghiệp của mình thẻ Diners’Club, cho phép các khách hàng có thể ghi nợ khi ăn, nghỉ tại một số nhà hàng, khách sạn ở New York và thanh toán số tiền này định kỳ hàng tháng mà không giới hạn số tiền được phép chi tiêu. [2] Trong hệ thống ngân hàng, hình thức sơ khai của thẻ là Charge-it, một hệ thống mua bán chịu do Ngân hàng Flasbush National lập ra.
Hệ thống này mở đường cho sự ra đời của thẻ vào năm 1951 do Ngân hàng Frankin National phát hành. Tại đây khách hàng đệ trình đơn xin vay và sẽ được thẩm định khả năng thanh toán. Khách hàng nào đủ tiêu chuẩn sẽ được cấp thẻ. Thẻ này được dùng để thanh toán cho các thương vụ bán lẻ hàng hóa, dịch vụ.
Các cơ sở này khi nhận được giao dịch sẽ liên hệ với ngân hàng, nếu được phép chuẩn chi họ sẽ thực hiện giao dịch và đòi tiền sau đối với ngân hàng. Với những lợi ích của hệ thống thanh toán này, càng ngày càng có nhiều tổ chức tín dụng tham gia thanh toán. Năm 1955, hàng loạt các thẻ mới như Trip Charge, Golden Key, Goutmet Club rồi đến Carte Blanche và American Express ra 5 đời và thống lĩnh thị trường. Tuy nhiên để hình thức thanh toán thẻ có thể thu hút được khách hàng cần phải có một mạng lưới thanh toán lớn, không chỉ trong phạm vi một địa phương, một quốc gia mà trên phạm vi toàn cầu.
Đứng trước đòi hỏi đó, InterBank (Marter Charge) và Bank of American (Bank Americard) đã xây dựng một hệ thống các quy tắc, tiêu chuẩn trong xử lý, thanh toán thẻ toàn cầu. Năm 1977, Bank of America trở thành VISA USD và sau đó trở thành tổ chức thẻ quốc tế VISA. Năm 1979, Master Charge cũng trở thành một tổ chức thẻ quốc tế lớn khác là MASTERCARD. Ngày nay, VISACARD và MASTERCARD đang chiếm thị phần lớn nhất trên thị trường thẻ thanh toán.
Ngoài hai loại thẻ này, còn có các sản phẩm thẻ khác với thị phần ít hơn như Diners’Club, American Express. Do Thẻ thanh toán ngày càng được sử dụng rộng rãi, các công ty và Ngân hàng liên kết với nhau để khai thác lĩnh vực thu hút nhiều lợi nhuận này. Thẻ thanh toán dần được xem như một công cụ văn minh, thuận lợi trong các cuộc giao dịch mua bán. Các loại thẻ Mastercard, Visa, Amex, JCB, Diners’Club đang được sử dụng rộng rãi trên toàn cầu và cùng phân chia những thị trường rộng lớn.
Khái niệm và các yếu tố trên Thẻ thanh toán. Khái niệm, bản chất Thẻ thanh toán Thẻ thanh toán là một phương tiện thanh toán được cung cấp bởi ngân hàng hoặc tổ chức phát hành thẻ. Thẻ thanh toán dùng để thanh toán hàng hóa dịch vụ thay thế tiền mặt bằng cách quẹt thẻ tại các điểm chấp nhận thẻ (ĐVCNT), thanh toán online hoặc dùng để chuyển khoản, thanh toán hóa đơn dịch vụ, rút tiền tại máy ATM. Thẻ thanh toán là biểu tượng về sự cam kết của ngân hàng hoặc tổ chức phát hành bảo đảm thanh toán những khoản tiền do chủ thẻ sử dụng bằng tiền của chủ thẻ đã gửi tại ngân hàng hoặc tiền của ngân hàng cho chủ thẻ vay.
Đặc điểm và các yếu tố trên thẻ thanh toán Đặc điểm cấu tạo: Thẻ thanh toán, dù cho được tổ chức tài chính hoặc phi tài chính phát hành đều được làm bằng Plastic theo các tiêu chuẩn quốc tế do tổ chức ISO quy định gồm: 6 + Kích thước: Chiều dài: 85,60 mm; Chiều ngang: 53,98 mm. + Mặt trước: - Biểu tượng và tên ngân hàng phát hành: Đây là yếu tố bắt buộc đối với các loại thẻ nhằm phân biệt ngân hàng phát hành (NHPH). - Bộ nhớ điện tử: Thường được gọi là chip, sử dụng đối với thẻ thông minh trong đó có các dữ liệu liên quan đến chủ thẻ. - Số thẻ: được in nổi hoặc chìm tuỳ từng loại thẻ.
- Tên chủ thẻ: là tên cá nhân hay tổ chức được ngân hàng cấp phát thẻ để sử dụng. - Thời hạn hiệu lực của thẻ: chỉ định khoảng thời gian NHPH cho phép sử dụng thẻ. - Thương hiệu của tổ chức thẻ quốc tế: Sử dụng để nhận biết loại thẻ quốc tế sử dụng. + Mặt sau: - Chữ ký của chủ thẻ: NHPH yêu cầu chủ thẻ ký tên vào mặt sau của thẻ nhằm xác định đúng người sử dụng thẻ khi thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ bằng thẻ tại các ĐVCNT.
- Dải băng từ: Là nơi lưu trữ dữ liệu liên quan đến chủ thẻ, được mã hoá theo những tiêu chuẩn nhất định, gồm 3 rãnh Rãnh 1: Lưu trữ thông tin về số tài khoản thẻ, tên chủ thẻ, thời hạn hiệu lực thẻ… Rãnh 2: Lưu trữ mã số kiểm tra, loại thẻ. Rãnh 3: Lưư trữ mã số nhận dạng cá nhân (số Pin) được sử dụng để rút tiền mặt tại ATM và một số thông tin tham chiếu như Số điện thoại NHPH, số kiểm tra để tăng sự an toàn cho thẻ. Vai trò, tiện ích của Thẻ thanh toán Đối với chủ thẻ (Cardholder): Thẻ thanh toán là phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt, thẻ cung cấp cho khách hàng sự tiện lợi mà không một phương tiện thanh toán nào có thể mang lại được. Để thực hiện giao dịch, khách hàng có thể sử dụng nhiều phương tiện thanh toán khác nhau như tiền mặt, ủy nhiệm chi, séc hay thẻ thanh toán; Tuy nhiên nếu sử dụng tiền mặt sẽ rất cồng kềnh và kém an toàn, còn nếu thanh toán bằng séc hay uỷ nhiệm chi thì phải mất thời gian đi đến ngân hàng và qua nhiều thủ tục tại quầy; Trong khi đó, Thẻ thanh toán cung cấp cho khách hàng nhiều sự tiện dụng trong thanh toán.
Với đặc điểm nhỏ gọn, phạm vi sử dụng không giới hạn cả về không gian và thời gian, việc sử dụng Thẻ thanh toán linh hoạt khiến cho hoạt động kinh doanh hiệu quả hơn rất nhiều. Ngoài ra Thẻ thanh toán là một phương tiện thanh toán hiện đại, ứng dụng công nghệ cao, được trang bị hệ thống bảo mật thông qua việc mã hoá thông tin cá nhân và mã số PIN riêng cho mỗi chủ thẻ cho nên tính an toàn cao. Vì vậy nếu xảy ra trường hợp thất lạc hay mất cắp thẻ thì nguy cơ bị mất tiền cũng khó xảy ra hơn so với việc sử dụng séc hay tiền mặt. Đối với người bán hàng (Đơn vị chấp nhận thẻ): Việc sử dụng Thẻ thanh toán làm công cụ thanh toán giúp cho người tiêu dùng thuận tiện và dễ dàng hơn trong việc mua hàng, đồng thời tạo điều kiện cho người bán hàng có cơ hội tăng doanh số bán hàng và mở rộng thị trường bán hàng của mình.
Thị trường sẽ trở thành toàn cầu đối với họ trong kinh doanh thương mại điện tử khi người mua hàng sử dụng dịch vụ mua hàng online và dịch vụ ngân hàng điện tử. Với việc chấp nhận Thẻ thanh toán, người bán hàng có khả năng giảm thiểu các chi phí về quản lý tiền mặt như bảo quản, kiểm đếm.Ngoài ra, việc thanh toán giữa người mua và người bán được ngân hàng bảo đảm vừa nhanh chóng, thuận tiện và chính xác. 8 Đối với ngân hàng: Việc phát triển dịch vụ Thẻ thanh toán tạo điều kiện cho các ngân hàng trong viêc mở rộng thị trường, gia tăng lượng khách hàng sử dụng dịch vụ. Lượng tiền gửi và lượng giao dịch thanh toán qua ngân hàng xét trên cả hai đối tượng: chủ thẻ (người mua) và ĐVCNT (người bán) sẽ tăng lên vì cả hai đối tượng này đều được những lợi ích nhất định khi chấp nhận sử dụng và thanh toán bằng Thẻ thanh toán.
Đối với ngân hàng việc phát triển dịch vụ Thẻ thanh toán là hoạt động bổ sung nguồn và gia tăng lợi nhuận trong kinh doanh. Phân loại Thẻ thanh toán Hiện nay trên thế giới có khá nhiều loại Thẻ thanh toán do các tổ chức thẻ quốc tế ban hành. Có thể phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau, cụ thể là: Theo công nghệ sản xuất: Thẻ khắc chữ nổi (Embossed Card): Là loại thẻ mà trên bề mặt thẻ được khắc nổi các thông tin cần thiết. Ngày nay, loại thẻ này không còn được sử dụng nữa vì kỹ thuật của nó quá thô sơ, dễ bị lợi dụng, làm giả.
Thẻ băng từ (Magnetic Strip): Thẻ được sản xuất dựa trên kỹ thuật công nghệ, những thông tin của thẻ và chủ thẻ được mã hoá trên băng từ ở mặt sau của thẻ. Thẻ này được sử dụng phổ biến trong vòng 20 năm trở lại đây nhưng có thể bị lợi dụng để lấy cắp tiền do có một số nhược điểm như thông tin ghi trên thẻ hẹp và mang tính cố định nên không thể áp dụng kỹ thuật mã hoá an toàn, có thể đọc được dễ dàng bằng thiết bị gắn với máy vi tính. Thẻ thông minh (Smart Card): Đây là thế hệ mới nhất của thẻ, dựa trên kỹ thuật vi xử lý tin học, gắn vào thẻ một “chip” điện tử có cấu trúc giống như một máy tính hoàn hảo. Thẻ có tính an toàn và bảo mật rất cao, tổ chức thẻ VISA quốc tế quy định các ngân hàng phát hành phải đưa vào sử dụng loại thẻ này kể từ năm 2008.
Theo chủ thể phát hành: Thẻ do ngân hàng phát hành: Là loại thẻ do NHPH giúp cho khách hàng sử dụng linh động tài khoản của mình tại ngân hàng hoặc sử dụng số tiền do ngân hàng cấp tín dụng. Đây là loại thẻ được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay, không chỉ trong phạm vi một quốc gia mà còn trên phạm vi toàn cầu.