Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ DỊCH VỤ THẺ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về dịch vụ thẻ 1. Lịch sử hình thành và phát triển thẻ ngân hàng Thẻ ngân hàng về mặt hình thức được làm bằng plastic theo kích cỡ, tiêu chuẩn quốc tế, trên thẻ thể hiện các yếu tố chính như : Nhãn hiệu thương mại của thẻ, tên và logo của nhà phát hành, tên chủ thẻ, số thẻ, ngày hiệu lực của thẻ, ngoài ra có thể có thêm một số yếu tố khác theo tiêu chuẩn của tổ chức hoặc tập đoàn thẻ quốc tế… Thẻ ngân hàng là công cụ thanh toán do ngân hàng phát hành thẻ cấp cho khách hàng sử dụng để thanh toán hàng hóa, dịch vụ tại các điểm cung ứng hàng hóa dịch vụ có ký hợp đồng thanh toán với ngân hàng, hoặc rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động ( ATM ) hay các ngân hàng đại lý trong phạm vi số dư tiền gửi của mình hoặc hạn mức tín dụng được cấp. Thẻ ngân hàng còn dùng để thực hiện nhiều dịch vụ khác thông qua hệ thống giao dịch tự động hay còn gọi là hệ thống tự phục vụ ATM.
Nhiều người trong chúng ta hẳn đã từng gặp những tình huống khó xử khi trong người không có tiền mặt. Chiếc thẻ đầu tiên đánh dấu cuộc cách mạng về thẻ tín dụng ra đời trong một tình huống tương tự thế. Đó là vào một buổi tối năm 1949, sau khi ăn tối ở một nhà hàng, ông Frank Mc Namara, một doanh nhân người Mỹ, bỗng phát hiện ra mình không mang theo tiền và buộc phải gọi điện về nhờ người nhà mang tiền đến trả. Cũng trong thời gian này ở Mỹ người ta đã sử dụng khá phổ biến các loại thẻ để mua hàng, mua xăng nhưng tiền mặt vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong các giao dịch.
Từ những bất cập đó, Frank Mc Namara đã sáng tạo ra thẻ ‘’Diner Club ‘’ một loại thẻ tín dụng đầu tiên trên thế giới. Với lệ phí hàng năm là 5USD, những người mang thẻ ‘’ Diner Club ‘’ có thể ghi nợ khi đi ăn ở 27 nhà hàng nằm trong hoặc ven thành phố New York. Đến năm 1951, hơn 1 triệu USD được 4 chi tiêu bằng thẻ này tại Mỹ. Cũng trong năm 1951, ngân hàng Franklin National bank ở Long Island, New York phát hành thẻ tín dụng đầu tiên của mình.
Thẻ này được dùng để thanh toán cho các thương vụ bán lẻ hàng hóa, dịch vụ. Chính vì sự tiện lợi của thẻ Diner Club cũng như sự ưa thích của chủ thẻ cũng như các điểm bán hàng mà đến năm 1955, hàng loạt các loại thẻ tương tự ra đời như : Trip Charge, Goldenkey, Gourmet, Guest Club, Esquire Club, … Năm 1958, thẻ Carte Blanche và American Express ra đời và thống lĩnh thị trường. Ngày càng có nhiều người sử dụng thẻ, từ tầng lớp giàu có đến những người bình dân và việc kinh doanh thẻ của các tổ chức phát hành thẻ vì thế mà ngày càng phát đạt, các ngân hàng theo nhau học hỏi phát hành thẻ. Năm 1960, thẻ Bank Americard do ngân hàng Bank of America ra đời và được đông đảo công chúng tầng lớp bình dân sử dụng.
Chẳng bao lâu sau, năm 1967, thẻ Bank Americard đã gặp phải sự cạnh tranh khốc liệt của Mastercharge ( do tổ chức Western States Bankcard Association phát hành). Từ đây, loại hình kinh doanh dịch vụ này phát triển rầm rộ không chỉ trên đất Mỹ mà lan rộng ra khắp nơi. Để phù hợp với sự phát triển này, Bank Americard đã trở thành Visa USA ( 1977 ) và sau đó là tổ chức Visa quốc tế còn Mastercharge trở thành tổ chức Mastercard quốc tế ( 1979 ). Ngày nay, doanh số giao dịch bằng thẻ Mastercard và Visacard chỉ đứng sau tiền mặt và Séc trong hệ thống thanh toán toàn cầu.
Cùng với nó, thẻ JCB, Diner Club và Amex cũng chiếm lĩnh thị trường rộng lớn. Hiện nay, trên thế giới, thẻ tín dụng quốc tế được xem như một công cụ thanh toán hiện đại, văn minh, thuận tiện, đặc biệt là ở các nước phát triển. Sự phát triển không ngừng của khoa học, công nghệ đã liên tục cải tiến và hoàn thiện những tính năng của thẻ tín dụng, giúp cho thẻ tín dụng trở thành phương tiện thanh toán nhanh, gọn, an toàn và tiện lợi.2 Phân loại thẻ 1.1 Phân loại theo công nghệ sản xuất a. Thẻ băng từ ( Magnetic Stripe ) 5 Thẻ được sản xuất dựa trên kỹ thuật thư tín với băng từ chứa thông tin được mã hóa ở mặt sau của thẻ.
Thẻ này được sử dụng phổ biến trong vòng 20 năm trở lại đây nhưng vì thông tin ghi trên thẻ hẹp và mang tính cố định nên không thể áp dụng kỹ thuật mã hóa an toàn, có thể dễ dàng đọc được bằng thiết bị gắn máy vi tính vì thế nên dễ bị lợi dụng. Thẻ thông minh ( Smart card ) Là thế hệ mới nhất của thẻ thanh toán, có tính an toàn và bảo mật rất cao. Thẻ thông minh dựa trên kỹ thuật xử lý tin học nhờ gắn vào thẻ một chip điện tử có cấu trúc giống như một máy tính hoàn hảo. Tuy vậy, do là công nghệ mới, có giá thành cao nên việc phát hành và chấp nhận thanh toán loại thẻ này mới chỉ phổ biến ở các nước phát triển.2 Phân loại theo chủ thể phát hành a.Thẻ do ngân hàng phát hành ( Bank Card ) Đây là loại thẻ do ngân hành giúp cho khách hàng sử dụng một cách linh hoạt tài khoản của mình tại ngân hàng, hoặc sử dụng một số tiền do ngân hàng cấp tín dụng.Thẻ do tổ chức phi ngân hàng phát hành ( Non – bank Card ) Đây là thẻ du lịch và giải trí của các tập đoàn kinh doanh lớn phát hành bởi các công ty xăng dầu, điện thoại, các cửa hiệu lớn.3 Phân loại theo tính chất thanh toán của thẻ a.
Thẻ tín dụng ( Credit Card ) Đây là loại thẻ cho phép chủ thẻ sử dụng thẻ để thanh toán cho các hàng hóa, dịch vụ với hạn mức chi tiêu nhất định mà ngân hàng cho phép căn cứ vào khả năng tài chính, số tiền ký quỹ hoặc tài sản thế chấp của chủ thẻ. Thẻ tín dụng là một hình thức chi tiêu trước, trả tiền sau với thời hạn ưu đãi không thu lãi ( khoảng từ 10 đến 45 ngày ). Chủ thẻ có thể thanh toán một phần hoặc thanh toán toàn bộ số tiền đã chi tiêu trong kỳ sao kê. Thẻ ghi nợ ( Debit Card ) Đây là loại thẻ do ngân hàng phát hành cho người có tài khoản tiền gửi mở tại ngân hàng.
Chủ thẻ được phép chi tiêu trong phạm vi số dư trên tài khoản tiền gửi. Việc gthanh toán này được tiến hành trên cơ sở chuyển khoản tiền từ tài khoản của chủ thẻ sang tài khoản của người bán hàng. Để gia tăng tính cạnh tranh sản phẩm của mình, các ngân hàng có thể cấp cho chủ thẻ một hạn mức thấu chi. Thẻ rút tiền mặt ( Cash card ) Là loại thẻ với chức năng chuyên biệt là rút tiền mặt tại các máy ATM hoặc tại tại các ngân hàng.
Chủ thẻ phải ký quỹ tiền gửi tài tài khoản ở ngân hàng hoặc phải được cấp tín dụng thấu chi mới sử dụng thẻ được. Số tiền rút ra một lần sẽ đước trừ dần vào số tiền ký quỹ. Có những loại thẻ rút tiền mặt sau - Thẻ rút tiền măt tại máy ATM ( Automatic Teller machine ) - Thẻ đảm bảo thanh toán séc ( Check Guarantee Card ) - Các loại thẻ Debit với các thương hiệu như : CIRCUS, IDPLUS của VISA; MASTRO của MASTERCARD d. Thẻ lưu giữ giá trị ( Stored Value Card ) Thẻ được phát hành bằng cách nộp một số tiền nhất định để mua thẻ, mỗi lần sử dụng thì số tiền trên thẻ bị trừ dần.
Thẻ này thường được sử dụng để mua bán hàng hóa có giá trị tương đối nhỏ như xăng dầu ở các trạm bán xăng tự động, gọi điện thoại, thanh toán phí cầu đường. Phân loại theo phạm vi lãnh thổ a. Thẻ nội địa Là loại thẻ được giới hạn trong phạm vi lãnh thổ một quốc gia, do vậy đồng tiền được sử dụng trong giao dịch mua bán hàng hóa hay rút tiền mặt phải là đồng bản tệ. Thẻ quốc tế Đây là loại thẻ được chấp nhận trên toàn cầu.
Thẻ quốc tế được quản lý và hỗ trợ bởi những tổ chức thẻ quốc tế như Mastercard, Visacard, Amex, JCB, Diner 7 Club, hoạt động theo một hệ thống thống nhất, theo những quy tắc nhất định và đồng bộ.5 Phân loại theo mục đích sử dụng a. Thẻ kinh doanh hay còn gọi là thẻ công ty ( Business Card ) Là loại thẻ được phát hành cho nhân viên của công ty sử dụng, nhằm giúp cho công ty quản lý chặt chẽ việc chi tiêu vào các công việc chung của công ty mình. Thường thì sao kê chi tiết các món chi tiêu sẽ được gửi về công ty và trích tiền từ tài khoản của công ty để thanh toán cho các món chi tiêu này. Thẻ du lịch và giải trí ( Travel and Entertainment Card ) Là loại thẻ do các tập đoàn hay công ty tư nhân lớn phát hành để phục vụ cho ngành du lịch và giải trí.
Phân loại theo tiện ích gia tăng của thẻ a. Thẻ ngân hàng đơn thuần. Là loại thẻ do NH phát hành và chỉ có tên và hình ảnh của NH phát hành, chủ thẻ dùng thẻ như một phương tiện thay thế tiền mặt và không có bất cứ một ưu đãi nào được áp dụng. Thẻ liên kết.
Là sản phẩm của một ngân hàng hay tổ chức tài chính kết hợp với một bên thứ ba và thông thường tên, nhãn hiệu thương mại hoặc logo của bên thứ ba này cũng đồng thời xuất hiện trên tấm thẻ. Ngoài những đặc điểm sẵn có của thẻ ngân hàng thông thường, thẻ liên kết có sức hấp dẫn hơn với khách hàng bởi chính những lợi ích phụ trội do bên thứ ba đem lại. Ví dụ thẻ Master MTV do Vietcombank và BHD liên kết phát hành mang lại cho chủ thẻ những tiện ích phụ trội riêng biệt như được hưởng ưu đãi giảm giá khi mua sắm, chi tiêu ở một số cửa hàng thời trang, nhà hàng sang trọng, được tham gia chương trình điểm thưởng tích luỹ theo lượng tiền thanh toán bằng thẻ để được đi du lịch nước ngoài, tham gia những ngày hội của MTV châu Á,.