CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ THANH TOÁN CƯỚC TRỰC TUYẾN 1. Một số vấn đề lý luận liên quan đến phát triển dịch vụ thanh toán cước trực tuyến 1. Lý luận về thanh toán cước trực tuyến 1. Cước viễn thông Theo quy định tại khoản 2 điều 3 Thông tư 35/2011/TT-BTC hướng dẫn về thuế giá trị gia tăng đối với dịch vụ viễn thông do bộ tài chính ban hành, cước viễn thông hay còn gọi là cước dịch vụ kết nối viễn thông là khoản doanh thu do cơ sở kinh doanh dịch vụ viễn thông thu được khi cung cấp dịch vụ kết nối viễn thông với mạng viễn thông của cơ sở kinh doanh dịch vụ viễn thông [1].
Theo điều 53 của Luật viễn thông năm 2009, giá cước viễn thông áp dụng đối với người sử dụng dịch vụ viễn thông là giá cước người sử dụng dịch vụ viễn thông thanh toán cho doanh nghiệp viễn thông khi sử dụng dịch vụ viễn thông do doanh nghiệp viễn thông cung cấp [2]. Thanh toán cước trực tuyến Trong hai thập kỷ qua, hệ thống thanh toán trực tuyến đã thu hút nhiều sự chú ý từ các nhà nghiên cứu và thiết kế hệ thống thông tin do vai trò quan trọng của nó trong thương mại điện tử hiện đại. Theo Briggs và Brooks (2011), thanh toán trực tuyến là một hình thức liên kết giữa các tổ chức, cá nhân được hỗ trợ bởi các ngân hàng cho phép trao đổi tiền điện tử [4]. Theo Kaur và Pathak (2015) thanh toán trực tuyến là một cách trả tiền điện tử cho hàng hóa hoặc dịch vụ khi mua sắm, thay vì sử dụng tiền mặt hoặc séc, trực tiếp hoặc qua đường bưu điện [5].
Như vậy, thanh toán cước trực tuyến là hình thức thanh toán hóa đơn cước 6 --- không dùng tiền mặt mà sẽ sử dụng dịch vụ thanh toán trung gian có kết nối với các cổng thanh toán điện tử. Dịch vụ thanh toán cước trực tuyến 1. Dịch vụ và đặc điểm dịch vụ * Khái niệm: Dịch vụ trên thế giới hiện nay được phát triển phong phú theo nhiều ngành và loại khác nhau. Trong số những nghiên cứu đã được công bố hiện nay, người ta cũng đưa ra những cách hiểu, hay các định nghĩa về dịch vụ, xuất phát từ điểm nhìn của mỗi tác giả.
Chúng ta có thể nêu ra đây một vài định nghĩa tiêu biểu sau: Theo Kotler và Armstrong định nghĩa “dịch vụ là một hoạt động hoặc lợi ích mà một bên có thể cung cấp cho bên khác về cơ bản là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu bất kỳ thứ gì. Sản xuất của nó có thể có hoặc có thể không gắn với một sản phẩm vật chất” [6]. Theo Từ điển Tiếng Việt: “Dịch vụ là công việc phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu nhất định của số đông, có tổ chức và được trả công”.256) Theo Philip Kotler (2003) cho rằng: “Dịch vụ là mọi hành động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu một cái gì đó. Sản phẩm của nó có thể có hay không gắn liền với một sản phẩm vật chất” [7] * Đặc điểm của dịch vụ: Dịch vụ thuần túy có các đặc trưng phân biệt so với hàng hóa thuần túy.
Đó là các đặc trưng: Tính vô hình, tính không tách rời giữa cung cấp và tiêu dùng dịch vụ, tính không đồng đều về chất lượng, tính không dự trữ được, tính không chuyển đổi sở hữu. Tính vô hình hay phi vật chất: Hàng hóa có hình dáng, kích thước, màu sắc và thậm chí cả mùi vị. Khách hàng có thể tự xem xét, đánh giá xem nó có phù hợp với nhu cầu của mình không. Ngược lại, dịch vụ mang tính vô hình, làm cho các giác quan của khách hàng không nhận biết được trước khi mua dịch vụ.
Đây chính là một khó khăn lớn khi bán một 7 --- dịch vụ so với khi bán một hàng hóa hữu hình, vì khách hàng khó thử dịch vụ trước khi mua, khó cảm nhận được chất lượng, khó lựa chọn dịch vụ, nhà cung cấp dịch vụ khó quảng cáo về dịch vụ. Do vậy, dịch vụ khó bán hơn hàng hóa. Tính không thể tách rời: Hàng hóa được sản xuất tập trung tại một nơi, rồi vận chuyển đến nơi có nhu cầu. Khi ra khỏi dây chuyền sản xuất thì hàng hóa đã hoàn chỉnh.
Do đó, nhà sản xuất có thể đạt được tính kinh tế theo quy mô do sản xuất tập trung, hàng loạt và quản lý chất lượng sản phẩm tập trung. Nhà sản xuất cũng có thể sản xuất khi nào thuận tiện, rồi cấttrữ vào kho và đem bán khi có nhu cầu. Do vậy, họ dễ thực hiện cân đối cung cầu. Nhưng quá trình cung cấp dịch vụ và tiêu dùng dịch vụ xảy ra đồng thời.
Người cungcấp dịch vụ và khách hàng phải tiếp xúc với nhau để cung cấp và tiêu dùng dịch vụ tại các địa điểm và thời gian phù hợp cho hai bên. Đối với một số dịch vụ, khách hàng phải có mặt trong suốt quá trình cung cấp dịch vụ. Tính không đồng đều về chất lượng: Đặc tính này còn gọi là tính khác biệt của dịch vụ. Theo đó, việc thực hiện dịch vụ thường khác nhau tùy thuộc vào cách thức phục vụ, nhà cung cấp dịch vụ, người phục vụ, thời gian thực hiện, lĩnh vực phục vụ, đối tượng phục vụ và địa điểm phục vụ.
Đặc tính này thể hiện rõ nhất đối với các dịch vụ bao hàm sức lao động cao. Tính không dự trữ được: Dịch vụ chỉ tồn tại vào thời gian mà nó cung cấp. Do vậy, dịch vụ không thể sản xuất hàng loạt để cất vào kho dự trữ, khi có nhu cầu thị trường thì đem ra bán. Chúng ta có thể ưu tiên thực hiện dịch vụ theo thứ tự trước sau nhưng không thể đem cất dịchvụ khi cần thì đưa ra sử dụng được.
Tính không lưu trữ được của dịch vụ sẽ không thành vấn đề khi nhucầu ổn định. Khi nhu cầu thay đổi, các công ty dịch vụ sẽ gặp khó khăn. Ví dụ như các công ty vận tải công cộng phải có nhiều phương tiện gấp bội so với số lượng cần thiết theo nhu sự đáp ứng cầu bình thường trong suốt cả ngày để đảm bảo nhu cầu trong giờ cao điểm. Chính vì vậy, dịch vụ là sản phẩm được sử dụng khi tạo thành và kết thúc ngay sau đó.
8 --- Tính không chuyển quyền sở hữu được: Khi mua một hàng hóa, khách hàng được chuyển quyền sở hữu và trở thành chủ sở hữu hàng hóa mình đã mua. Khi mua dịch vụ thì khách hàng chỉ được quyền sử dụng dịch vụ, được hưởng lợi ích mà dịch vụ mang lại trong một thời gian nhất định mà thôi. Đặc tính này ảnh hưởng đến chính sách phân phối trong Marketing dịch vụ, trong đó người bán buôn, bán lẻ cũng không được chuyển quyền sở hữu. Họ đơn thuần chỉ là người tham gia vào quá trình cung cấp dịch vụ.
Và tất nhiên, họ có ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ. Như vậy, vấn đề huấn luyện, hỗ trợ, tư vấn, kiểm tra đánh giá các trung gian phân phối là yếu tố cần thiết để đảm bảo chất lượng dịch vụ. Dịch vụ thanh toán cước trực tuyến Dịch vụ thanh toán cước trực tuyến là một hoạt động của dịch vụ thanh toán được thực hiện bằng cách sử dụng các công cụ hay phương thức thanh toán để thanh toán cước sử dụng dịch vụ viễn thông bằng cách bù trừ tiền từ tài khoản của khách hàng sang tài khoản của doanh nghiệp viễn thông hoặc bù trừ lẫn nhau thông qua các đơn vị cung cấp dịch vụ thanh toán trực tuyến trung gian. Dịch vụ thanh toán cước trực tuyến là dịch vụ thanh toán dựa trên sự hỗ trợ của máy tính, điện thoại thông minh có kết nối Internet và các hệ thống kết nối qua các cổng thanh toán trực tuyến để hỗ trợ khách hàng thanh toán hóa đơn cước một cách dễ dàng.
Dịch vụ thanh toán cước trực tuyến thay thế cho dịch thanh toán cước bằng hình thức nhân công. Khách hàng thanh toán hóa đơn cước không phải dùng đến tiền mặt như hình thức thanh toán truyền thống. Mà chỉ cần thông qua các cổng thanh toán trung gian để thanh toán cước sử dụng. Dịch vụ thanh toán cước trực tuyến mang lại lợi ích cho khách hàng đó là thanh toán một cách nhanh chóng và thuận lợi.
Đặc biệt tiết kiệm khoản chi phí phải trả khi sử dụng dịch vụ thu phí tại nhà là 4. Và thay vì phải hẹn hoặc chờ thu ngân đền thu trực tiếp, thanh toán cước trực tuyến giúp khách hàng linh hoạt, chủ động trong thanh toán và tiết kiệm thời gian. Vai trò và đặc điểm của dịch vụ thanh toán cước trực tuyến * Vai trò thanh toán cước trực tuyến - Thanh toán cước trực tuyến đóng vai trò là một khâu gắn liền trong hoạt động thương mại điện tử. Khi hoạt động thương mại điện tử đi vào đúng quỹ đạo, việc thanh toán bằng tiền mặt sẽ được hạn chế tối đa.
Thanh toán cước trực tuyến giúp tiết kiệm được các nguồn lực trong thanh toán, đảm bảo chất lượng thông qua việc tăng thêm sự nhanh chóng, thuận tiện, hiện đại của hoạt động thanh toán. Thanh toán cước trực tuyến góp phần làm tăng tỷ trọng thanh toán không dùng tiền mặt trong chu chuyển tiền tệ, làm giảm lượng tiền mặt trong lưu thông, giảm các nguy cơ rủi ro trong quá trình thanh toán truyền thống. Góp phần thúc đẩy hoạt động thanh toán và mang lại hiệu quả kinh tế cao. Khi thanh toán cước trực tuyến càng phát triển mở rộng, thì dòng tiền thanh toán trong các ví điện tử càng tăng, tạo điều kiện nâng cao lưu thông các dòng tiền thanh toán điện tử.
Các doanh nghiệp cũng từ đó mà tập trung nguồn lực phát triển tốt hơn các hệ thống thanh toán điện tử, nâng cao khả năng cạnh tranh, thích ứng tốt hơn với sự thay đổi khoa học công nghệ, tăng năng suất và đáp ứng tốt nhất các yêu cầu của khách hàng về chất lượng và sự tiện ích trong việc sử dụng dịch vụ của doanh nghiệp. Có thể thấy, thanh toán cước trực tuyến đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện thành công đề án theo quyết định số 2545/QĐ-TTg ngày 30/12/2016 về việcphát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam của chính phủ. Đồng thời góp phần thực hiện thành công mục tiêu chuyển đổi số của tập đoàn theo văn bản 6917/VNPT-CN ngày 22/12/2020. * Đặc điểm thanh toán cước trực tuyến - Thanh toán cước trực tuyến cũng chính là một hình thức của thanh toán không dùng tiền mặt.