CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG 1. Tổng quan về rủi ro hoạt động trung gian thanh toán 1. Trang gian thanh toán 1. Khải niệm Tổ chức trung gian thanh toán Quá trình phát sinh và phát triển của các quan hệ thanh toán tiền tệ phục vụ các giao dịch dân sự và thương mại gắn liền với quá trình phát sinh và phát triển của các hình thức tiền tệ trong nền kinh tế.
Các quan hệ thanh toán này chủ yếu được thực hiện dưới hai hình thức là thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt và thanh toán qua các tô chức trung gian thanh toán. Đứng trên các góc độ nghiên cứu khác nhau, người ta có những cách hiểu khác nhau về loại hình Tổ chức Trung gian thanh toán này, có thể kế đến hai khái niệm tiêu biểu trong số đó như: Theo quy định tại khoản 1, Điều 1 của Nghị định số 80/2016/NĐ-CP sửa đồi, bé sung một số điều của Nghị định số 101/2012/NĐ-CP ngày 22 tháng 11 năm 2012 của Chính phủ về thanh toán không dùng tiền mặt, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2016, tổ chức Trung gian thanh toán là: "tổ chức không phải là ngân hàng được Ngân hàng Nhà nước cấp Giấy phép hoạt động cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán”; “Ngân hàng thương mại, chỉ nhánh ngân hàng nước ngoài được phép cung ứng dịch vụ ví điện tử”. Tổ chức trung gian thanh toán hay tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán còn được hiểu là nhà cung cấp dịch vụ thanh toán mà cả người trả tiền và người nhận tiền đều không tham gia vào việc thực hiện chuyên tiền (Regulafion oƒ the european parliament and of the council on information on the payer accompanying transfers of funds, 2005). Cée loai hinh dịch vụ trung gian thanh toán ~_ Các dịch vụ trung gian thanh toán được cấp phép ở Việt Nam bao gồm: "_ Dịch vụ cung ứng hạ tầng thanh toán điện tử; *_ Dịch vụ hỗ trợ dịch vụ thanh toán; 10 * Cac dich vụ trung gian thanh toán khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.
~_ Dịch vụ trung gian thanh toán được cung ứng bởi VTC (theo nội dung giấy phép. số 31/GP-NHNN): *_ Dịch vụ ví điện tử là dịch vụ cung cấp cho khách hàng một tài khoản điện tử định danh do các tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán tạo lập trên vật mang tin (như chỉp điện tử, sim điện thoại di động, máy tinh.), cho phép lưu giữ một giá trị tiền tệ được đảm bảo bằng giá trị tiền gửi tương đương với số tiền được chuyên từ tài khoản thanh toán của khách hàng tại ngân hàng vào tải khoản đảm bảo thanh. toán của tổ chức cung ứng dịch vụ ví điện tử theo tỷ lệ 1:1. "_ Dịch vụ công thanh toán điện tử là dịch vụ cung ứng hạ tầng kỹ thuật để thực hiện việc kết nối giữa các đơn vị chấp nhận thanh toán và ngân hàng nhằm hỗ trợ khách hàng thực hiện thanh toán trong giao dịch thương mại điện tử, thanh toán hóa đơn điện tử và các dịch vụ thanh toán điện tử khác.
*_ Dịch vụ hỗ trợ thu hộ, chỉ hộ là dịch vụ hỗ trợ các ngân hàng thực hiện dịch vụ thu hộ, chỉ hộ cho khách hàng có tài khoản thanh toán, thẻ ngân hàng tại ngân hàng thông qua việc nhận, xử lý, gửi thông điệp dữ liệu điện tử và tính toán kết quả thu hộ, chỉ hộ: hủy việc thu hộ, chỉ hộ để quyết toán cho các bên có liên quan. Rủi ro hoạt động trung gian thanh toán 1. Khái niệm rủi ro hoạt động trung gian thanh toán ~_ Rủi ro theo trường phái trung hòa: “Rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được” theo định nghĩa của Frank Knight). “Rủi ro là sự bất trắc có thể liên quan đến việc xuất hiện những biến cố không.
“Rủi ro là một tông hợp những ngẫu nhiên có thê đo lường được bằng xác suất” (Irving Prefect). "1 Diễn giả một cách đầy đủ hơn về rủi ro và nguy cơ rủi ro, trong cuốn “Risk management and insurance”, các tác giả C. Arthur William, Jr. Smith đã viết: “Rủi ro là sự biến động tiềm ân ở những kết quả.
Rủi ro có thê xuất hiện trong, hầu hết mọi hoạt động của con người. Khi có rủi ro, người ta không thể dự đoán được chính xác kết quả. Sự hiện diện của rủi ro gây nên sự bất định. Nguy cơ rủi ro phát sinh bất cứ khi nào một hành động dẫn đến khả năng được hoặc mắt không thể đoán trước”.
Theo David Apgar: “Rủi ro là bất cứ điều gì không chắc chắn có thê ảnh hưởng. tới các kết quả của chúng ta so với những gì chúng ta mong đợi” (Risk Intelligence: Learning to Manage What We Don’t Know, 2006). Như vậy, theo trường phái trung hòa, rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được. Rai ro có tính 2 mặt: vừa tích cực, vừa tiêu cực.
Rủi ro có thê gây ra những tôn thất, mắt mát, nguy hiểm,. Nhưng chính rủi ro có thể mang đến cho con người những cơ hội. Nếu tích cực nghiên cứu rủi ro, nhận dạng, do lường rủi ro, quản trị rủi ro, người ta không chỉ tìm ra được những biện pháp phòng ngừa, né tránh mà còn có thể “lật ngược tình thế”, biến thủ thành công, biến bại thành thắng, biến thách thức thành. những cơ hội, mang lại kết quả tốt đẹp trong tương lai.
~_ Rủi ro theo trường phái tiêu cực: Theo trường phái này, rủi ro được coi là sự không may, sự tổn thất, mất mát, nguy hiểm, ta có thể thầy các định nghĩa: Theo Từ điền Tiếng Việt do trung tâm từ điển học Hà Nội xuất bản năm 1995: “Rủi ro là điều không lành, không tốt, bất ngờ xảy đến”. Nguyễn Lân: “Rủi ro (đồng nghĩa với rủi) là sự không may”. (Từ điển và ngữ Việt Nam, năm 1998, tr. Theo từ điển Oxford: *Rủi ro là khả năng gặp nguy hiểm, hoặc bị đau đớn, thiệt hại.” Một số từ điền khác lại đề cập tương tự: “Rủi ro là sự bất trắc, gây ra mắt mát, 12 hư hại”, “Rủi ro là yếu tố liên quan đến nguy hiểm, sự khó khăn hoặc điều không chắc chăn”.
Trong lĩnh vực kinh doanh: Rai ro là sự tồn thất về tài sản hay là sự giảm sút lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận dự kiến. Rủi ro là những bất trắc ngoài ý muốn xảy ra trong quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, tác động xấu đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Rai ro là khả năng xảy ra sự khác biệt giữa kết quả thực tế và kì vọng theo kế hoạch Theo Bernard Manso: “Rủi ro là tác động của nhưng biến cố xảy ra trong tương. lai lên giá trị ròng của một chủ thể kinh tế hoặc một danh mục tài sản mà khả năng xảy ra biến đổi đó có thể dự đoán trước nhưng không thể dự đoán chính xác biến cố đó sẽ xảy ra như thế nào”.
Trong hoạt động cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán, rủi ro là nguy cơ xảy. ra những sự kiện ngoài mong muốn, gây ra những tác động bắt lợi cho cá nhân hoặc tổ chức. Các tác động này có thể dẫn đến sự giảm sút trong doanh thu, hoặc đặt doanh nghiệp vào tình trạng khó khăn về tài chính. Ngoải ra các tác động này có thể biểu hiện dưới dạng phi tài chính gây ra hiệu quả tiêu cực đến uy tín, khả năng sinh lời trong tương lai của doanh nghiệp.
Rủi ro trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán còn được hiểu là khả năng phát sinh những sự kiện gây tác động tiêu cực đến mục tiêu chiến lược và hoạt động doanh nghiệp, mang đến tồn thất cho doanh nghiệp. Đây cũng là hàm ý tác giả lựa chọn sử dụng để định nghĩa về rủi ro trong khuôn khổ bài luận văn này. Phân loại riti ro trong hoạt động trung gian thanh toán 1. Cơ sở phân loại rủi ro Lĩnh vực trung gian thanh toán là một lĩnh vực tương đối mới mẻ, liên tục phát triển và đổi mới.
Tuy vậy, bản chất hoạt động này ở Việt Nam chính là cánh tay nói 13 đài cho hoạt động của các ngân hàng thương mại. Do vậy, các loại rủi ro của hoạt động trung gian thanh toán cũng không xa rời với các rủi ro mà các ngân hàng thương mại có thê gặp phải. Trên cơ sở đó, ta có thê vận dụng cách phân loại các loại rủi ro mà của ngân hàng thương mại cho việc phân chia rủi ro trong hoạt động trung gian thanh toán. ~_ Phân chia rủi ro hoạt động ngân hàng theo cách phân chia truyền thống của Việt Nam, ta có có thể bóc tách thành các loại rủi ro chính như sau: = Rui ro tín dụng là rủi ro do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng hoặc thỏa thuận với ngân hàng, chỉ nhánh ngân hàng nước ngoài.
Rủi ro tín dụng đối tác là rủi ro do. đối tác không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ. nghĩa vụ thanh toán trước hoặc khi đến hạn của các giao dịch. "=_ Rủi ro thị trường là rủi ro do biến động bắt lợi của lãi suất, tỷ giá, giá chứng.
khoán và giá hàng hoá trên thị trường. Rủi ro thị trường bao gồi v⁄_ Rủi ro lãi suất là rủi ro do biến động bắt lợi của lãi suất trên thị trường đối với giá trị của giấy tờ có giá, công cụ tài chính có lãi suất, sản phẩm phái sinh lãi suất trên số kinh doanh của ngân hàng, chỉ nhánh ngân hàng nước ngoài; v⁄_ Rủi ro ngoại hồi là rủi ro do biến động bắt lợi của tỷ giá trên thị trường khi ngân hàng, chỉ nhánh ngân hàng nước ngoài có trạng thái ngoại tệ; Y Rui ro gid cé phiéu 1a rai ro do biến động bắt lợi của giá cô phiếu trên thị trường đối với giá trị của cô phiếu, giá trị chứng khoán phái sinh trên số kinh doanh của ngân hàng, chỉ nhánh ngân hàng nước ngoài; ⁄ˆ_ Rủi ro giá hàng hóa là rủi ro do biến động bắt lợi của giá hàng hoá trên thị trường đối với giá trị của sản phẩm phái sinh hàng hóa, giá trị của sản phẩm trong giao dịch giao ngay chịu rủi ro giá hàng hóa của ngân hàng, chỉ nhánh ngân hàng.