Chương 1: Cơ sở lý thuyết về quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại theo chuẩn mực Basel II. Chương 2: Thực trạng ứng dụng chuẩn mực Basel II trong QTRRTD tại NHNo & PTNT Việt Nam – Chi nhánh Long An Chương 3: Giải pháp ứng dụng chuẩn mực Basel II trong QTRRTD tại NHNo & PTNT Việt Nam- Chi nhánh Long An 4 CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI THEO CHUẨN MỰC BASEL II 1.1 NHỮNG LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG 1.1 Khái niệm về rủi ro tín dụng Có rất nhiều cách tiếp cận khái niệm rủi ro tín dụng.Fitch: “RRTD là loại rủi ro xảy ra khi người vay không thanh toán được nợ theo thoả thuận hợp đồng dẫn đến sai hẹn trong nghĩa vụ trả nợ.” - Theo Hennie Van Greuning – Sonja B Rajovic Bratanovic: “RRTD được cho là nguy cơ mà người đi vay không thể chi trả tiền lãi, hoặc hoàn trả vốn gốc so với thời hạn đã được ấn định trong hợp động tín dụng. Đây là thuộc tính vốn có của hoạt động ngân hàng. RRTD tức việc chi trả bị trì hoãn, hoặc tồi tệ hơn là không hoàn trả được toàn bộ.
Điều này gây ra sự cố đối với dòng chu chuyển tiền tệ và gây ảnh hưởng tới khả năng thanh toán của ngân hàng”. - Theo uỷ ban Basel: “ RRTD là khả năng khách hàng vay hoặc bên đối tác không thực hiện được các nghĩa vụ của mình theo những điều khoản đã thoả thuận” - Theo GARP: “RRTD là khả năng tổn thất do khách hàng thất bại trong việc hoàn trả khoản vay theo các điều khoản hợp đồng. Rủi ro này thông thường được gọi là rủi ro mặc định bao gồm: phá sản; thất bại trong việc thanh toán; cơ cấu nợ, hoãn nợ làm gia tăng việc không thanh toán các khoản vay. Đối với ngân hàng, RRTD thường là các tài sản trong danh mục tài sản (khoản vay và trái phiếu tới hạn).
RRTD có thể phát sinh trong hoạt động kinh doanh như là rủi ro tín dụng của đối tác” Như vậy, có thể hiểu RRTD ngân hàng như sau: RRTD là thuật ngữ thường được sử dụng trong hoạt động kinh doanh tiền tệ của ngân hàng, là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng, có khả năng gây tổn thất cho ngân hàng, biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng không trả được toàn bộ hoặc một phần vốn vay và/hoặc lãi cho ngân hàng đúng hạn theo thỏa thuận đã cam kết 5 1.2 Phân loại rủi ro tín dụng Nếu căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, rủi ro tín dụng được phân chia như sau: (Nguyễn Văn Tiến, 2010) Rủi ro giao dịch: là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch có ba bộ phận chính là rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ: - Rủi ro lựa chọn là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay - Rủi ro bảo đảm: phát sinh từ các tiêu chuẩn bảo đảm như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên giá trị của tài sản đảm bảo. - Rủi ro nghiệp vụ: là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề. Rủi ro danh mục: nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được phân chia thành hai loại: Rủi ro nội tại và rủi ro tập chung - Rủi ro nội tại: xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có mang tính riêng biệt bên trong mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế.
Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn. - Rủi ro tập chung: là trường hợp ngân hàng tập chung vốn cho vay quá nhiều với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế, hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định; hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao.3 Nguyên nhân của RRTD Có rất nhiều nguyên dân dẫn tới rủi ro tín dụng, có thể xét dưới góc độ từ phía khách hàng vay, từ phía ngân hàng và những nguyên nhân chủ quan (Trần Huy Hoàng, 2011). 6 Nguyên nhân từ phía khách hàng Có thể từ các nguyên nhân sau: - Phần lớn khách hàng khi vay vốn ngân hàng đều phải có phương án/dự án sản xuất kinh doanh hiệu quả, phương án trả nợ khả thi. Tuy nhiên vì một lý do nào đó khách hàng sử dụng vốn sai mục đích, ảnh hưởng đến khả năng trả nợ.
Bên cạnh đó, một số khách hàng cố tình chiếm dụng vốn, thiếu thiện chí trả nợ cho ngân hàng. - Một số khách hàng đầu tư vào những lĩnh vực mà mình thiếu hiểu biết, không có hoặc vượt quá khả năng quản lý; quy mô kinh doanh vượt quá tầm kiểm soát của họ. Mặt khác, họ lại thiếu mạnh dạn đổi mới cung cách quản lý, đầu tư cho bộ máy giám sát hoạt động kinh doanh, tài chính kế toán theo đúng chuẩn mực. Từ đó dẫn đến sự phá sản của các phương án kinh doanh đầy khả thi mà lẽ ra nó phải thành công trên thực tế.
- Những năm gần đây, hiện tượng khách hàng cố tình lừa đảo ngân hàng như lập hồ sơ giả, làm giả giấy tờ tài sản thế chấp để vay tiền ngân hàng ngày càng trở nên phổ biến. Trong khi đó, nhiều cán bộ ngân hàng không đủ trình độ để nhận biết giấy tờ giả, mất cảnh giác hoặc chưa làm hết trách nhiệm khi thẩm định cho vay nên rủi ro xảy ra là đương nhiên. Nguyên nhân từ phía ngân hàng - Cán bộ ngân hàng không chấp hành nghiêm túc chế độ tín dụng và các điều kiện cho vay. - Chính sách và quy trình cho vay chưa chặt chẽ, chưa có quy trình quản lý rủi ro hữu hiệu, chưa chú trọng đến phân tích khách hàng, xếp loại rủi ro tín dụng để tính toán điều kiện cho vay và khả năng trả nợ.
Đối với cho vay doanh nghiệp nhỏ và cá nhân, quyết định cho vay của ngân hàng chủ yếu dựa trên kinh nghiệm, chưa áp dụng công cụ chấm điểm tín dụng hoặc công cụ chỉ để dụng trích lập dự phòng. - Năng lực dự báo, phân tích và thẩm định tín dụng, phát hiện và xử lý khoản vay có vấn để của cán bộ tín dụng còn rất yếu, nhất là đối với các ngành đòi hỏi hiểu biết chuyên môn cao dẫn đến sai lầm trong quyết định cho vay. Mặc khác, 7 cũng có thể quyết định cho vay đúng đắn nhưng do thiếu kiểm tra, kiểm soát sau khi cho vay dẫn đến khách hàng sử dụng vốn sai mục đích nhưng ngân hàng không ngăn chặn kịp thời. - Thiếu thông tin về khách hàng hay thiếu thông tin tính dụng tin cậy, kịp thời, chính xác để xem xét, phân tích trước khi cấp tín dụng.
- Năng lực và phẩm chất đạo đức của một số cán bộ tín dụng chưa đủ tầm và vấn đề quản lý, sử dụng, đãi ngộ cán bộ ngân hàng chưa thoả đáng cũng là nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng cho ngân hàng - Kiểm tra, kiểm soát nội bộ của NHTM có điểm mạnh hơn thanh tra NHNN ở tính thời gian vì nhanh chóng, kịp thời xử lý ngay vấn đề khi vừa phát sinh do được thực hiện thường xuyên cùng với hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Nhưng trong một thời gian dài, tại nhiều ngân hàng hoạt động kiểm tra, kiểm soát nội bộ chỉ mang tính hình thức, lỏng lẻo, không được chú trọng, thậm chí là bị “vô hiệu hóa”. Vì vậy, những sai sót, rủi ro tiềm ẩn không được ngăn chặn, phát hiện và xử lý kịp thời dẫn đến những tổn thất không đáng có. Nhóm nguyên nhân khách quan Đây là những tác động ngoài ý chí của khách hàng và ngân hàng như thiên tai, hoả hoạn, do sự thay đổi của các chính sách quản lý kinh tế, điều chỉnh quy hoạch vùng, ngành, do hành lang pháp lý chưa phù hợp, do biến động của thị trường trong và ngoài nước, quan hệ cung cầu hàng hoá thay đổi… khiến doanh nghiệp lâm vào tình trạng khó khăn tài chính không thể khắc phục được.
Từ đó doanh nghiệp dù có thiện chí nhưng vẫn không thể trả được nợ.4 Đánh giá rủi ro tín dụng Có rất nhiều cách đánh giá rủi ro tín dụng như sau (Nguyễn Đăng Dờn, 2011): Tỷ lệ nợ quá hạn: Nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi đã quá hạn. Hay hiểu cách khác, nợ quá hạn là những khoản tín dụng không hoàn trả đúng hạn, không được chấp nhận gia hạn hoặc điều chỉnh kỳ hạn nợ. 8 Nợ quá hạn được phân loại như sau: + Nợ quá hạn dưới 90 ngày: Nợ cần chú ý. + Nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày: Nợ dưới tiêu chuẩn.
+ Nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày: Nợ nghi ngờ. + Nợ quá hạn trên 360 ngày: Nợ có khả năng mất vốn. Hệ số rủi ro tín dụng: Hệ số rủi ro tín dụng = (Tổng dư nợ cho vay/Tổng tài sản có) x 100 Hệ số này cho thấy tỷ trọng của khoản mục tín dụng trong tài sản Có, khoản mục tín dụng trong tổng tài sản càng lớn thì lợi nhuận sẽ lớn nhưng đồng thời RRTD cũng rất cao. Tổng dư nợ cho vay của ngân hàng thường được chia thành 3 nhóm: + Nhóm dư nợ có chất lượng tốt: Là các khoản tín dụng có mức độ rủi ro thấp nhưng có thể mang lại thu nhập không cao cho ngân hàng, thường chiếm tỷ trọng thấp trong tổng dư nợ của ngân hàng.
+ Nhóm dư nợ có chất lượng trung bình: Là các khoản cho vay có mức độ rủi ro có thể chấp nhận được và thu nhập mang lại cho ngân hàng là vừa phải; thường chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng dư nợ của ngân hàng. + Nhóm dư nợ có chất lượng xấu: Là các khoản vay có mức độ rủi ro lớn nhưng có thể mang lại thu nhập cao cho ngân hàng, chiếm tỷ trọng cao hay thấp phụ thuộc vào chất lượng tín dụng của ngân hàng.