Chương 1: Các vấn đề cơ bản về rủi ro tín dụng và quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại. Luan van 4 Chương 2: Thực trạng công tác quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam. Luan van 5 CHƢƠNG 1: CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm rủi ro tín dụng Theo khoản 01 Điều 03 - Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của Ngân hàng nhà nước Việt Nam quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài:”“Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng (sau đây gọi tắt là rủi ro) là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết ”. Theo Nguyễn Văn Tiến (2012), “Rủi ro tín dụng là rủi ro phát sinh trong trường hợp ngân hàng không thu được đầy đủ gốc và lãi của khoản vay hoặc việc thanh toán gốc và lãi không đúng kỳ hạn”. Tóm lại, rủi ro tín dụng là những tổn thất có khả năng xảy ra hoặc không xảy ra phụ thuộc vào khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ nợ của khách hàng.
Khái niệm Quản lý rủi ro tín dụng Tương tự với rủi ro tín dụng, có khá nhiều quan điểm về quản lý rủi ro tín dụng: Theo Nguyễn Văn Tiến (2012): “Quản lý rủi ro tín dụng là quá trình xây dựng và thực thi các chính sách và biện pháp quản lý tín dụng nhằm đạt mục tiêu an toàn, hiệu quả và phát triển bền vững”. Theo Trần Trung Tường (2011): “Quản lý rủi ro tín dụng là tiến trình của nhà quản trị bao gồm nhận dạng, đánh giá mức độ rủi ro tiềm ẩn mà ngân hàng phải đối mặt đồng thời lựa chọn và thực thi những biện pháp/công cụ thích hợp nhằm đối phó với rủi ro trong hoạt động tín dụng của NHTM”. Theo Trần Huy Hoàng (2010): “Quản lý rủi ro tín dụng là quá trình tiếp cận rủi ro tín dụng một cách khoa học, toàn diện và có hệ thống nhằm nhận dạng, kiểm Luan van 6 soát, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất, mất mát, những ảnh hưởng bất lợi của rủi ro tín dụng.” Tóm lại, quản lý rủi ro tín dụng là một hệ thống các hoạt động hoàn chỉnh qua đó ngân hàng nhận diện, đánh giá, kiểm soát và xử lý rủi ro khi cấp tín dụng cũng như lợi nhuận có thể thu được, từ đó đưa ra các quyết định nhằm đảm bảo lợi ích tối đa cho mình. Hoạt động quản lý rủi ro tín dụng có thể được xem xét trên cơ sở một khoản tín dụng và một danh mục tín dụng.
Các tác động của quản lý rủi ro tín dụng đến hoạt động của ngân hàng thƣơng mại Theo Đào Nguyên Thuận (2019), công tác quản lý rủi ro tín dụng được các ngân hàng thực hiện một cách hiệu quả sẽ đem lại rất nhiều lợi ích: Thứ nhất, việc kiểm soát tốt rủi ro sẽ hạn chế phát sinh các khoản nợ nhóm 2, nợ xấu, do đó, chi phí trích lập dự phòng rủi ro của ngân hàng sẽ giảm đi, làm tăng lợi nhuận trước thuế của ngân hàng. Thứ hai, tỷ lệ nợ nhóm 2, nợ xấu được giữ ở mức thấp sẽ tạo niềm tin cho người gửi tiền và các nhà đầu tư về chất lượng tín dụng, độ ổn định của ngân hàng, tạo niềm tin cho các khoản đầu tư và tiền gửi sẽ sinh lời, không bị đọng vốn do các khoản nợ quá hạn. Thứ ba, ngân hàng có tỷ lệ nợ nhóm 2, nợ xấu thấp sẽ có điều kiện tập trung nguồn lực mở rộng thị trường, tăng thị phần, có năng lực tài chính vững chắc để cạnh tranh với các đối thủ, nâng cao vị thế và uy tín trên thị trường. Thứ tư, rủi ro tín dụng mang tính tất yếu, gắn liền với hoạt động tín dụng của các ngân hàng.
Rủi ro tín dụng có tính chất đa dạng, xảy ra do nhiều nguyên nhân (cả khách quan và chủ quan), rất phức tạp và khó nắm bắt, gây thiệt hại rất lớn cho các ngân hàng về vốn, thu nhập và uy tín. Do đó, công tác quản lý rủi ro tín dụng là cần thiết trong hoạt động ngân hàng, đảm bảo giảm tối thiểu ảnh hưởng của rủi ro tín dụng. Thứ năm, quản lý rủi ro tín dụng hiệu quả giúp ngân hàng hoạt động một cách lành mạnh và ổn định. Như đã trình bày ở trên, ngân hàng phải thực hiện trích lập Luan van 7 dự phòng rủi ro cho các khoản nợ nhóm 2, nợ xấu.
Về lâu dài, việc trích dự phòng rủi ro sẽ ăn vào vốn chủ sở hữu của ngân hàng, làm giảm quy mô và có thể dẫn tới phá sản. Các nội dung Quản lý rủi ro tín dụng 1. Nhận diện rủi ro tín dụng Ngay khi lập hồ sơ tín dụng cho khách hàng, các cán bộ tín dụng đã có thể góp phần phòng ngừa rủi ro tín dụng cho Ngân hàng bằng cách nhận diện các rủi ro. Khách hàng của ngân hàng rất đa dạng, mỗi khách hàng lại có những rủi ro khác nhau với mức độ khác nhau.
Vì vậy ngân hàng cần xác định những thông tin liên quan đến khách hàng mà ngân hàng thu thập được. Nguồn thông tin mà ngân hàng nhận được thường là do khách hàng cung cấp và các nguồn thông tin khác do ngân hàng tự tìm hiểu được. Vấn đề đặt ra là ngân hàng phải xác định có những loại rủi ro nào mà khách hàng có thể có trước khi cấp tín dụng,“để từ đó có hướng đo lường mức độ của từng loại rủi ro.”Mặt khác, sau khi cấp tín dụng, ngân hàng phải thường xuyên giám sát khoản tín dụng đó, để có thể xác định những loại rủi ro nào phát sinh trong quá trình khách hàng sử dụng vốn, từ đó có hướng giải quyết sao cho rủi ro là thấp nhất, và nếu có tổn thất xảy ra thì tổn thất đó là thấp nhất. Theo Lê Phong Châu (Đại học Kinh tế quốc dân), một số dấu hiệu giúp ngân hàng nhận diện được rủi ro tín dụng như sau: Thứ nhất, nhóm dấu hiệu liên quan đến mối quan hệ với các ngân hàng của khách hàng” Một là, lịch sử giao dịch qua tài khoản của khách hàng: có nhiều dấu hiệu rủi ro liên quan đến quá trình giao dịch tại ngân hàng như: sự giảm sút số dư tiền gửi, có sự chuyển tiền lòng vòng trong một nhóm khách hàng, tiền về tài khoản thường xuyên được rút ra ngay lập tức, các khoản phát sinh có chủ yếu là nộp tiền mặt vào TK chứ ít phát sinh doanh thu,.
Điều này có thể là dấu hiệu của việc hoạt động sản xuất, kinh doanh của khách hàng không thực sự hiệu quả, không tạo ra được doanh thu thực tế. Các hoạt động nộp, rút tiền hay chuyển tiền lòng vòng có thể là dấu hiệu tạo doanh thu ảo của khách hàng. Luan van 8 Hai là, các hoạt động vay: Nhu cầu vay thường xuyên gia tăng không phù hợp với sự gia tăng quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh, yêu cầu các khoản vay vượt quá nhu cầu dự kiến, thường chỉ vay để trả nợ cho một/một số ít đối tác có liên quan, thường xuyên trong tình trạng trả nợ rồi xin giải ngân lại ngay, thường xuyên chậm trễ trong việc thanh toán nợ gốc và lãi. Đây có thể là dấu hiệu của việc khách hàng đang gặp khó khăn về tài chính, không đủ khả năng trả nợ cho ngân hàng dẫn tới thanh toán chậm gốc và lãi, thực hiện giải ngân mới trả nợ khoản vay cũ.
Ba là, phương thức tài chính: Thường xuyên sử dụng các nguồn vốn ngắn để tài trợ cho các nhu cầu trung dài hạn (khi nguồn thu từ phương án kinh doanh thương mại về khách hàng không dùng trả nợ ngắn hạn vay ngân hàng mà đem đầu tư tài sản dài hạn từ đó dẫn đến giảm giá trị vốn lưu động ròng, nghiêm trọng hơn có thể gây mất cân đối tài chính hoặc;”các hệ số thanh toán biến đổi theo chiều hướng xấu; giảm vốn chủ sở hữu. Thứ hai, nhóm dấu hiệu liên quan đến bộ máy và phương thức quản lý của khách hàng” Hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng có thể tiềm ẩn nhiều rủi ro nếu khách hàng có một số biểu hiện sau đây: Một là, khách hàng thường xuyên thay đổi chủ sở hữu, các thành viên trong hội đồng quản trị/hội đồng thành viên, các thành viên trong ban điều hành; Các thành viên trong hội đồng quản trị/hội đồng thành viên/ban điều hành thường xuyên có những bất đồng về mục tiêu, cách thức điều hành doanh nghiệp. Điều này có thể dẫn tới việc doanh nghiệp hoạt động không theo một đường lối chung, thiếu nhất quán và gây ra những bất ổn trong hoạt động. Hai là, việc luân chuyển, thay đổi nhân viên diễn ra thường xuyên, nhân viên thường không có xu hướng gắn bó lâu dài với doanh nghiệp.
Sự thiếu ổn định về nhân sự cho thấy doanh nghiệp có những bất ổn về nội bộ, cơ cấu tổ chức thường xuyên thay đổi có thể dẫn tới việc hoạt động thiếu ổn định, không nhất quán. Ba là, việc điều hành doanh nghiệp được quyết định bởi Hội đồng quản trị hoặc Ban điều hành ít hoặc không có kinh nghiệm; thiếu quan tâm đến lợi ích của Luan van 9 cổ đông, chủ nợ; lập kế hoạch xác định mục tiêu kém, xuất hiện các hành động nhất thời, không có khả năng đối phó với những thay đổi. Điều này sẽ dẫn tới việc doanh nghiệp hoạt động thiếu định hướng rõ ràng, ban lãnh đạo không đưa ra được kế hoạch kinh doanh hiệu quả, tạo ra thu nhập cho doanh nghiệp. Bốn là, có nhiều chi phí quản lý bất hợp lý: sử dụng nhiều vốn để đầu tư các trang thiết bị nhằm mục đích phô trương hơn là mục đích sử dụng như đầu tư các thiết bị văn phòng quá hiện đại, phương tiện giao thông đắt tiền, Ban điều hành có cuộc sống xa hoa, lẫn lộn giữa chi phí kinh doanh và tài chính cá nhân.
Đây có thể là dấu hiệu cho thấy tài chính của công ty không minh bạch, các chi phí bất hợp lý có thể ăn vào vốn mà doanh nghiệp không phát hiện sớm.