Chương 1: GIỚI THIỆU Phần này tác giả giới thiệu các thành phần về nghiên cứu: Lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng – phạm vi nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, lược khảo tài liệu và bố cục Luận văn. Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Chương này tác giả nêu một số khái niệm về dịch vụ chất lượng dịch vụ, mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng. Xây dựng phương pháp nghiên cứu cho nghiên cứu bao gồm mô hình nghiên cứu, thang đo cho mô hình và các phương pháp xử lý số liệu. Chương 3: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA VPBANK CHI NHÁNH VĨNH LONG 12 Chương này tác giả nêu khái quát về kết quả hoạt động kinh doanh của VPBank chi nhánh Vĩnh Long, phân tích hoạt động kinh doanh dịch vụ khách hàng cá nhân của Ngân hàng thời gian qua.
Từ đó đưa ra khó khăn và thuận lợi trong hoạt kinh doanh của dịch vụ khách hàng cá nhân tại ngân hàng VPBank chi nhánh Vĩnh Long thời gian qua. Chương 4: PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG ĐỐI VỚI CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA VPBANK CHI NHÁNH VĨNH LONG Tác giả đưa ra các kết quả phân tích số liệu cũng như tìm ra các nhân tố chính cũng như là mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến sự hài lòng của khách hàng đối với chất lượng dịch vụ khách hàng cá nhân tại Ngân hàng VPBank chi nhánh Vĩnh Long thời gian qua. Chương 5: GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ ĐÁP ỨNG SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG TMCP VIỆT NAM THỊNH VƯỢNG CHI NHÁNH VĨNH LONG 13 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2. KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ 2.
Khái niệm và đặc điểm của dịch vụ * Khái niệm: Theo Luật giá năm 2013: “Dịch vụ là hàng hóa có tính vô hình, quá trình sản xuất và tiêu dùng không tách rời nhau, bao gồm các loại dịch vụ trong hệ thống ngành sản phẩm Việt Nam theo quy định của pháp luật”. * Các khái niệm để tham khảo khác: - Theo wikipedia.org trong Kinh tế học: “Dịch vụ được hiểu là những thứ tương tự như hàng hóa nhưng là phi vật chất. Có những sản phẩm thiên về sản phẩm hữu hình và những sản phẩm thiên hẳn về sản phẩm dịch vụ, tuy nhiên đa số là những sản phẩm nằm trong khoảng giữa sản phẩm hàng hóa, dịch vụ”. - Theo Từ điển Tiếng Việt: “Dịch vụ là công việc phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu nhất định của số đông, có tổ chức và được trả công”.
- Từ điển Wikipedia: “Định nghĩa về dịch vụ trong kinh tế học được hiểu là những thứ tương tự như hàng hoá nhưng phi vật chất Theo quan điểm kinh tế học, bản chất của dịch vụ là sự cung ứng để đáp ứng nhu cầu như: dịch vụ du lịch, thời trang, chăm sóc sức khoẻ. và mang lại lợi nhuận”. - Theo luật Luật Thương mại 2005: “Cung ứng dịch vụ là hoạt động thương mại, theo đó một bên (sau đây gọi là bên cung ứng dịch vụ) có nghĩa vụ thực hiện dịch vụ cho một bên khác và nhận thanh toán; bên sử dụng dịch vụ (sau đây gọi là khách hàng) có nghĩa vụ thanh toán cho bên cung ứng dịch vụ và sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận”. Do có rất nhiều định nghĩa về dịch vụ nên chúng ta có thể định nghĩa lại thành hai định nghĩa như sau: - Theo nghĩa rộng: “Dịch vụ được coi là lĩnh vực kinh tế thứ ba trong nền kinh tế quốc dân.
Theo cách hiểu này, dịch vụ bao gồm toàn bộ các ngành các lĩnh vực có tạo ra tổng sản phẩm quốc nội hay tổng sản phẩm quốc dân trừ các ngành 14 sản xuất vật chất như công nghiệp, nông nghiệp”. [4] - Theo nghĩa hẹp: “Dịch vụ là những hoạt động hỗ trợ cho quá trình kinh doanh bao gồm các hỗ trợ trong và sau khi bán, là phầm mềm của sản phẩm được cung ứng cho khách hàng”. [4] Qua các đĩnh nghĩa đó, tác giả rất đồng tình với hai định nghĩa về dịch vụ theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Hai định nghĩa này sẽ giúp rất nhiều cho tác giả trong việc thực hiện nghiên cứu này.
* Đặc điểm dịch vụ: Sản phẩm dịch vụ có những đặc điểm riêng biệt giúp ta có thể phân biệt với các sản phẩm vật chất, đó cũng chính là điều mà các nhà doanh nghiệp dịch vụ cần phải nắm vững để có chiến lược, hành động đúng. - Thứ nhất: Sản phẩm dịch vụ là sản phẩm vô hình, không hiện hữu sản phẩm dịch vụ không tồn tại dưới dạng vật chất cụ thể. Sản phẩm mà dịch vụ tạo ra để phục vụ thì không thể xác định một cách cụ thể bằng các tiêu chuẩn kỹ thuật. Cái mà khách hàng cảm nhận được từ sản phẩm dịch vụ lại chính là các phương tiện chuyển giao dịch vụ tới khách hàng.
[4] - Thứ hai: Sản phẩm dịch vụ có tính không tách riêng. Hay nói cách khác việc cung ứng sản phẩm và việc tiêu dùng sản phẩm diễn ra đồng thời. Một sản phẩm dịch vụ được tạo ra cũng chính là lúc đó nó được tiêu dùng. Do vậy thái độ bên ngoài của các nhân viên tiếp xúc, của yếu tố bên ngoài là rất quan trọng.
Nó ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng dịch vụ. [4] - Thứ ba: Sản phẩm dịch vụ không có dự trữ. Đây chính là hệ quả của đặc điểm không tách riêng. Do sản xuất và tiêu dùng diễn ra cùng một lúc nên sản phẩm dịch vụ không có dự trữ, không thể cất trữ trong kho, để làm phần đệm điều chỉnh sự thay đổi nhu cầu của thị trường như các sản phẩm vật chất khác.
[4] - Thứ tư: Chất lượng dịch vụ là rất khó đánh giá, vì nó chịu nhiều yếu tố tác động như người bán, người mua và thời điểm mua bán dịch vụ. Trước hết đó là sự tiếp xúc tương tác qua lại giữa người làm dịch vụ và người được phục vụ, không loại trừ các phương tiện của hoạt động dịch vụ, những điều kiện và sản phẩm theo và dịch vụ bổ sung khác. Song yếu tố tác động mạnh đến chất lượng dịch vụ là quan 15 hệ tiếp xúc, sự đáp ứng kịp thời những nhu cầu và lòng mong muốn của khách hàng đối với những dịch vụ. [4] Với những đặc điểm nêu trên giúp tác giả phân biệt được đâu là dịch vụ, đâu là sản phẩm không phải dịch vụ.
Khái niệm về chất lượng - Theo từ điển tiếng Việt phổ thông: “Chất lượng là tổng thể những tính chất, thuộc tính cơ bản cùa sự vật (sự việc) … làm cho sự vật (sự việc) này phân biệt với sự vật (sự việc) khác”. - Theo Oxford Pocket Dictionary: “Chất lượng là mức hoàn thiện, là đặc trưng so sánh hay đặc trưng tuyệt đối, dấu hiệu đặc thù, các dữ kiện, các thông số cơ bản”. - Theo tiêu chuẩn Pháp NF X 50 – 109: “Chất lượng là tiềm năng của một sản phẩm hay dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu người sử dụng”. - Theo Kaoru Ishikawa: “Chất lượng là khả năng thoả mãn nhu cầu thị trường với chi phí thấp nhất”.
- Theo ISO 8402: “Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một thực thể (đối tượng) tạo cho thực thể (đối tượng) đó khả năng thoả mãn những nhu cầu đã nêu ra hoặc nhu cầu tiềm ẩn”. - Theo ISO 9000:2005: "Mức độ của một tập hợp các đặc tính vốn có đáp ứng các yêu cầu”. Từ những định nghĩa trên cho thấy chất lượng là một yếu tố rất cần thiết cho tất cả các sản phẩm (sản phẩm dịch vụ, sản phẩm hữu hình.) trên thế giới này. Đối với một sản phẩm có chất lượng càng cao thì sẽ được nhiều người sử dụng.
Khái niệm về chất lượng dịch vụ Một trong những đóng góp lớn nhất về lĩnh vực chất lượng dịch vụ thì không thể nào quên Parasuaraman và ctg (1988, 1991). Ông và ctg cho rằng, Chất lượng dịch vụ là mức độ khác nhau giữa sự mong đợi của người tiêu dùng về dịch vụ và nhận thức của họ về kết quả của dịch vụ.” Ngoài ra thì Lehtinen (1982) cho rằng chất lượng dịch vụ phải được đánh giá trên hai khía cạnh, (1) quá trình cung cấp dịch vụ và (2) kết quả của dịch vụ. 16 Theo Gronroos (1984) cũng đề nghị hai thành phần của dịch vụ là (1) chất kỹ thuật, là những gì mà khách hàng nhận được và (2) chất lượng chức năng, diễn giải dịch vụ được cung cấp như thế nào. Từ các khái niệm trên, tác giả cho rằng chất lượng dịch vụ làm sẽ mang lại cho khách hàng thỏa mãn được mong muốn cũng như sự thỏa mái nhất.
Chất lượng dịch vụ đóng vai trò rất quan trọng cho các tổ chức kinh tế nói chung và cho lĩnh vực ngân hàng nói riệng. Nói mang lại sự khác biệt giữ các ngân hàng. Góp phần thu hút khách hàng mới và giữ chân khách hàng cũ. Khái niệm về sự hài lòng Có nhiều định nghĩa khác nhau về sự hài lòng của khách hàng cũng như có khá nhiều tranh luận về định nghĩa này.
Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng sự hài lòng là sự khác biệt giữa kì vọng của khách hàng và cảm nhận thực tế nhận được. Theo Fornell (1995), “sự hài lòng hoặc sự thất vọng sau khi tiêu dùng, được định nghĩa như là phản ứng của khách hàng về việc đánh giá bằng cảm nhận sự khác nhau giữa kỳ vọng trước khi tiêu dùng với cảm nhận thực tế về sản phẩm sau khi tiêu dùng nó”. Hoyer và MacInnis (2001) cho rằng, “sự hài lòng có thể gắn liền với cảm giác chấp nhận, hạnh phúc, giúp đỡ, phấn khích, vui sướng”. Theo Hansemark và Albinsson (2004), “sự hài lòng của khách hàng là một thái độ tổng thể của khách hàng đối với một nhà cung cấp dịch vụ, hoặc một cảm xúc phản ứng với sự khác biệt giữa những gì khách hàng dự đoán trước và những gì họ tiếp nhận, đối với sự đáp ứng một số nhu cầu, mục tiêu hay mong muốn”.
Theo Zeithaml & Bitner (2000), “sự hài lòng của khách hàng là sự đánh giá của khách hàng về một sản phẩm hay một dịch vụ đã đáp ứng được nhu cầu và mong đợi của họ”. Kotler (2000) định nghĩa, “sự hài lòng như là một cảm giác hài lòng hoặc thất vọng của một người bằng kết quả của việc so sánh thực tế nhận được của sản phẩm (hay kết quả) trong mối liên hệ với những mong đợi của họ”.