CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÔNG TY TÀI CHÍNH 1.1 RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÔNG TY TÀI CHÍNH 1.1 Tín dụng tại Công ty tài chính Công ty tài chính là một tổ chức tín dụng phi ngân hàng, đa số các công ty tài chính tại Việt Nam hiện nay được thành lập dựa vào nhằm mục tiêu huy động vốn phục vụ nhu cầu đầu tư phát triển của Tập đoàn - Công ty mẹ, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tăng sức cạnh tranh và phục vụ chiến lược phát triển của Tập đoàn. Hiện nay, hầu hết các Công ty Tài chính ở Việt Nam được thành lập để phục vụ cho chiến lược phát triển chung của Tập đoàn do đó khách hàng cho vay chủ yếu là các đơn vị thành viên trong Tập đoàn, tập trung vào mục tiêu phát triển một vài ngành nghề chính. Do đó RRTD của CTTC sẽ chịu sự ảnh hưởng trực tiếp từ các ngành nghề cho vay tập trung, chiếm tỷ trọng lớn trong danh mục cho vay. Đây là điểm khác biệt chủ yếu trong RRTD của CTTC và RRTD của các NHTM.
Bên cạnh đó, một số CTTC sẽ chịu sự chỉ đạo cho vay của Tập đoàn, điều này khiến cho CTTC không thể đánh giá khoản vay một cách khách quan và chặt chẽ như các NHTM. Vì vậy, rủi ro tín dụng tại công ty tài chính sẽ có nhiều điểm khác biệt so với rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại.2 Khái niệm rủi ro tín dụng tại công ty tài chính Theo Ủy ban giám sát Basel thì “Rủi ro tín dụng được định nghĩa một cách đơn giản là khả năng mà một khách hàng vay hoặc một đối tác không đáp ứng nghĩa vụ của mình phù hợp với những điều kiện đã thỏa thuận”.Koch (1995, trang 107) thì “Rủi ro tín dụng là sự thay đổi tiềm ẩn của thu nhập thuần và thị giá của vốn xuất phát từ việc khách hàng không thanh toán hay thanh toán trễ hạn” Theo khoản 1 điều 2 Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc NHNN Việt Nam và các quyết định sửa đổi, bổ sung về việc phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý RRTD trong hoạt động của TCTD, RRTD là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của TCTD do khách 123doc 2 hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết. Như vậy, rủi ro tín dụng tại công ty tài chính có thể hiểu là khả năng (xác xuất) khách hàng vay không thực hiện nghĩa vụ đã cam kết đối với công ty tài chính, gây ra tổn thất đối với công ty tài chính đó. Đặc điểm của rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng mang tính gián tiếp: rủi ro tín dụng phát sinh từ khi công ty tài chính chuyển vốn cho khách hàng, trong quá trình sử dụng vốn vay khách hàng gặp khó khăn khi hoạt động sản xuất kinh doanh, và điều này làm ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng.
Như vậy, rủi ro tín dụng chịu ảnh hưởng gián tiếp bởi rủi ro của khách hàng vay. Rủi ro tín dụng có tính chất đa dạng và phức tạp: Tuy các sản phẩm tín dụng của công ty tài chính không đa dạng như Ngân hàng thương mại, nhưng Rủi ro tín dụng vẫn xuất hiện mà CTTC không lường trước được và gây ra hậu quả khó lường. Nền kinh tế càng phát triển thì mở ra càng nhiều cơ hội kinh doanh nhưng đi kèm với nó là không ít rủi ro. Khách hàng vay kinh doanh trong nhiều lĩnh vực ngành nghề, mà mỗi lĩnh vực có một đặc điểm riêng, do đó rủi ro tín dụng đối với mỗi khách hàng là khác nhau, phức tạp và rất đa dạng.
Rủi ro có tính tất yếu: rủi ro và lợi nhuận luôn đi kèm với nhau, vì vậy các CTTC phải chấp nhận rủi ro như một điều tất yếu trong hoạt động kinh doanh của mình. Điều này có nghĩa là khi thực hiện nghiệp vụ tín dụng thì CTTC đã phải xác định có rủi ro trong tất cả các khoản mà mình cấp tín dụng cho khách hàng. Phân loại rủi ro tín dụng 1. Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro Rủi ro giao dịch: là rủi ro phát sinh do những hạn chế trong quá trình giao dịch, trong khâu xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng.
Rủi ro giao dịch bao gồm rủi ro lựa chọn, rủi ro đảm bảo, và rủi ro nghiệp vụ. Rủi ro danh mục: Là rủi ro phát sinh do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của CTTC, bao gồm rủi ro nội tại và rủi ro tập trung.1 Phân loại RRTD theo nguyên nhân phát sinh rủi ro 1.2 Căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng Rủi ro không hoàn trả nợ đúng hạn: khi đến thời hạn trả nợ quy định trong hợp đồng tín dụng mà khách hàng vẫn chưa trả nợ vay. Rủi ro do không có khả năng trả nợ: Là rủi ro xảy ra trong trường hợp doanh nghiệp đi vay mất khả năng chi trả, ngân hàng phải thanh lý TSĐB của doanh nghiệp để thu nợ. RRTD không giới hạn ở hoạt động cho vay: Bao gồm các hoạt động khác mang tính chất tín dụng như bảo lãnh, cam kết, chấp thuận tài trợ thương mại, đồng tài trợ… 1.5 Các chỉ số đánh giá rủi ro hoạt động tín dụng 1.
Chỉ số về tình hình nợ quá hạn Nợ quá hạn trong kinh doanh tín dụng là hiện tượng đến thời hạn thanh toán khoản nợ người đi vay không có khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ đúng hạn cho CTTC. Trong quan hệ tín dụng, việc phát sinh nợ quá hạn là điều không thể tránh khỏi, nhưng nếu Nợ quá hạn phát sinh vượt quá tỷ lệ cho phép sẽ dẫn đến tình trạng mất khả năng thanh toán của CTTC. Tỷ lệ Nợ quá hạn Tỷ lệ nợ quá hạn cho thấy số nợ gốc bị quá hạn và chưa thể được hoàn trả. Tỷ lệ này cho thấy rủi ro của việc món vay sẽ không được trả.
123doc 4 Số dư nợ quá hạn Tỷ lệ nợ quá hạn = (1.1) Tổng dư nợ Các khách hàng có nợ quá hạn: Số khách hàng có NQH Tỷ lệ khách hàng có NQH = (1.2) Tổng số khách hàng có dư nợ Nếu tỷ lệ các khách hàng có nợ quá hạn thấp hơn tỷ lệ NQH hay tỷ lệ rủi ro theo thời gian, thì dường như các khoản cho vay lớn có vấn đề hơn là các khoản cho vay món nhỏ.2 Các chỉ số về tỷ lệ mất vốn Có 2 công thức tính tỷ lệ mất vốn có thể cung cấp một cái nhìn về các khoản vay có khả năng bị mất và các khoản vay bị mất thật sự của CTTC như sau: Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng: Khoản mục dự trữ mất vốn, được thể hiện trong bảng cân đối kế toán, là số cộng dồn của khoản mục dự phòng mất vốn (được coi như là chi phí trong báo cáo thu nhập) trừ đi nợ quá hạn được xóa. Dự phòng RRTD được trích lập Tỷ lệ trích lập dự phòng RRTD = (1.3) Dư nợ cho kỳ báo cáo Tỷ lệ này ở các CTTC thường ít khi vượt quá 5%. Trong trường hợp hoạt động tín dụng tăng trưởng với tốc độ nhanh hoặc quy mô các khoản vay là lớn thì nên sử dụng mẫu số là dư nợ trung bình để phản ánh chích xác hơn khoản vay mà trong đó khoản dự trữ mất vốn được trích ra. Tỷ lệ mất vốn Tỷ lệ này được tính bằng cách xác định tỷ lệ vốn vay bị mất trong một giai đoạn nào đó (thường là 1 năm).
Mất vốn đã xóa cho kỳ báo cáo Tỷ lệ mất vốn = (1.4) Dư nợ trung bình cho kỳ báo cáo 123doc 5 Tỷ lệ này khác nhau giữa các CTTC, tùy thuộc vào chính sách xóa nợ của tổ chức đó. Thông thường, mất vốn nếu lớn hơn 2% có nghĩa là chất lượng tín dụng có vấn đề.3 Chỉ số đánh giá khả năng bù đắp rủi ro Được đánh giá qua hai công thức sau: Dự phòng rủi ro tín dụng được Hệ số khả năng bù đắp các khoản = trích lập (1.5) cho vay bị mất Dư nợ bị thất thoát Dự phòng rủi ro tín dụng được Hệ số khả năng bù đắp rủi ro = trích lập (1.6) tín dụng Nợ quá hạn khó đòi 1.6 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng Có 3 nhóm nguyên nhân cơ bản gây nên rủi ro tín dụng : Đó là các nguyên nhân khách quan từ môi trường bên ngoài, nguyên nhân từ phía khách hàng, và nguyên nhân do chính CTTC tạo nên.1 Nguyên nhân khách quan từ môi trường bên ngoài Nguyên nhân bất khả kháng Các thiệt hại đôi khi nảy sinh từ nguyên nhân thiên tai như bão lụt, hạn hán, hỏa hoạn và động đất. Những thay đổi về nhu cầu của người tiêu dùng hoặc về kỹ thuật một ngành công nghiệp có thể làm sụp đổ cả cơ đồ của một hãng kinh doanh và đặt người đi vay từng làm ăn có lãi vào thế thua lỗ. Thông tin bất cân xứng Trong quá trình hoạt động, ngân hàng thực hiện nghiệp vụ Nợ và Có – chuyển vốn từ người gửi tiền sang người đi vay tiền – Toàn bộ giao dịch này sẽ suôn sẻ nếu các bên tham gia đều có những thông tin và hiểu biết đầy đủ.
Môi trường kinh tế Có ảnh hưởng đến sức mạnh tài chính của người đi vay và thiệt hại hay thành công đối với người cho vay. Trong giai đoạn kinh tế hưng thịnh, người vay hoạt 123doc 6 động tốt do lợi nhuận thu được tương đối cao, nhưng trọng giai đoạn khủng hoảng khả năng hoàn trả của người đi vay bị giảm sút. Môi trường pháp lý Trong kinh doanh các yếu tố pháp lý có tác động đến hoạt động kinh doanh bao gồm hệ thống luật, hệ thống các biện pháp bảo đảm cho pháp luật được thực thi và sự chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật của các chủ thể tham gia hoạt động kinh doanh và các ngành có liên quan. Cùng với môi trường kinh tế, môi trường pháp lý tạo nên môi trường cho vay của các CTTC.
Môi trường cho vay có thể ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực, có thể hạn chế hay làm tăng thêm rủi ro đối với hoạt động kinh doanh tín dụng của các ngân hàng thương mại.