CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TẠI CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 1. Tổng quan nghiên cứu 1. Các nghiên cứu nước ngoài Nghiên cứu về lịch sử quản trị rủi ro của Dionne (2013) ghi nhận quản trị rủi ro hiện đại bắt đầu được tìm hiểu từ sau năm 1955. Đầu những năm 1970, khái niệm quản trị rủi ro tài chính cũng đã được phân tích kỹ lưỡng.
Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, các doanh nghiệp lớn có danh mục tài sản đa dạng đã tìm cách tự bảo vệ mình khỏi những rủi ro. Những hoạt động này đã dần trở nên vô cùng quan trọng, ảnh hưởng đến khả năng thất thoát hay chi phí thất thoát. Cumming & Hirtle (2001) đã chỉ ra những thách thức cốt yếu trong hoạt động quản trị rủi ro tại các công ty tài chính bằng việc đánh giá các cuộc thảo luận từ các chuyên gia và ngành tài chính. Các tác giả cho rằng quản trị rủi ro doanh nghiệp là một quá trình đo lường và quản lý những hoạt động nền tảng quy mô doanh nghiệp.
Quá trình này bao gồm hai khía cạnh riêng biệt nhưng có liên kết với nhau, đó là đánh giá và quản lý rủi ro thông qua những rủi ro mà công ty gặp phải (rủi ro thị trường, rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro hoạt động), và ước lượng rủi ro tích hợp trước sự khác biệt giữa vị trí địa lý, yếu tố pháp nhân và ngành nghề kinh doanh. Các tác giả cũng đi sâu vào phân tích quản trị rủi ro tích hợp (consolidated risk management), những khó khăn khi xây dựng hệ thống quản trị rủi ro tích hợp như chi phí thông tin, chi phí hoạt động, điều kiện tài chính… Mục đích của quản trị rủi ro là tối đa hóa giá trị doanh nghiệp qua việc cắt giảm chi phí liên quan đến các loại rủi ro khác nhau. Quản trị rủi ro cũng góp phần cải thiện cơ cấu vốn của doanh nghiệp, khuyến khích những công ty có sức khỏe tài chính tốt nên dùng lợi thế thông tin để xây dựng chiến lược phòng hộ giá tương lai (Dionne, 2013). Nghiên cứu về quản trị rủi ro cũng được thực hiện tại nhiều quốc gia.
Fatemi và Glaum vào năm 2000 đã thực hiện nghiên cứu về quản trị rủi ro tại các doanh nghiệp Đức, với mẫu là 71 công ty phi tài chính được niêm yết trên sàn chứng khoán Frankfurt có khối lượng giao dịch tối thiểu trong năm 1997 là 400 triệu DM. Các tác giả đã nghiên cứu về nhiều 3 khía cạnh trong hoạt động quản trị rủi ro của các công ty này, từ hệ thống, mục tiêu quản trị, thái độ với rủi ro tài chính cho đến từng cách quản trị của các công ty cho từng loại rủi ro như rủi ro tỉ giá, rủi ro lãi suất,… Vào năm 2007, Aaron và các cộng sự đã tìm hiểu tổng quan về quản trị rủi ro trong các doanh nghiệp tài chính như ngân hàng, công ty chứng khoán, công ty bảo hiểm và các quỹ đầu tư tại Canada. Các công ty tài chính tại đây đã áp dụng nhiều biện pháp quản trị rủi ro chặt chẽ, đòi hỏi ban điều hành công ty phải chủ động hơn trong việc hiểu rõ rủi ro và giám sát mức độ rủi ro, đồng thời đảm bảo rằng chiến lược, hệ thống và việc điều hành quản trị phải thích hợp. Các tác giả tập trung phân tích về rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường, rủi ro thanh khoản và rủi ro hoạt động, bên cạnh đó nêu ra những hạn chế và thách thức trong hệ thống quản trị rủi ro tại các công ty này như thiếu các mô hình rủi ro, tầm quan trọng của kiểm tra tính ổn định và việc quản trị rủi ro tích hợp.
Soltanizadeh và các cộng sự (2014) cũng tìm hiểu về hoạt động quản QTRR trong các doanh nghiệp tại Malaysia. Các tác giả ngay từ đầu đã khẳng định quản trị rủi ro doanh nghiệp đang nhanh chóng trở thành mối quan tâm cơ bản tại mọi các ngành nghề. Dữ liệu được thu thập từ 199 công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Malaysian Bursa, và kết quả chỉ ra mỗi ngành nghề khác nhau có hoạt động QTRR khác nhau, trong đó khung quản trị rủi ro tại chỗ xuất hiện nhiều trong các mảng xây dựng hạ tầng, khách sạn và công nghệ. Cũng trong năm 2014, Bezzina và các cộng sự đã nghiên cứu về hoạt động quản trị rủi ro được áp dụng trong các công ty tài chính tại Malta.
Mục tiêu mà các tác giả hướng đến bao gồm thứ nhất, nhận diện các cơ chế và chiến lược quản trị rủi ro mà các công ty sử dụng để quản lý rủi ro, tối đa hóa cơ hội và duy trì tình hình tài chính bình ổn; thứ hai, xác định xem liệu những hoạt động ấy có đóng góp gì cho hiệu quả doanh nghiệp hay không; thứ ba, quản trị rủi ro cung cấp cho các doanh nghiệp lợi thế cạnh tranh ở khía cạnh nào; và thứ tư, tìm hiểu liệu trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (corporate social responsibility - CSR) có phải là chìa khóa quan trọng trong chiến lược quản trị rủi ro doanh nghiệp không. Các tác giả đã khảo sát và nhận được phản hồi từ 141 tổ chức tín dụng, công ty đầu tư và các định chế tài chính đăng ký với Cơ quan Kiểm soát Tài chính Malta. Kết quả cho thấy hoạt động quản trị rủi ro tại các định chế tài chính ở Malta có ảnh hưởng tích cực đến giá 4 trị gia tăng và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Mặc dù lợi thế cạnh tranh không được các doanh nghiệp quá coi trọng, việc thực hiện cơ chế quản lý rủi ro mang đến ý thức về rủi ro mạnh mẽ hơn cho doanh nghiệp, từ đó xác định rõ mục tiêu và trách nhiệm quản trị rủi ro.
CSR cũng góp phần trong chiến lược quản trị rủi ro và là một phần của văn hóa doanh nghiệp, nhưng những nhân tố tài chính hay kinh tế mới là chìa khóa để dẫn dắt hệ thống quản trị rủi ro hiệu quả. Gần đây nhất, vào đầu năm 2021, Oudat và Ali đã nghiên cứu về ảnh hưởng cơ bản của quản trị rủi ro đến các ngân hàng và công ty chứng khoán tại Bahrain. Các tác giả lựa chọn các ngân hàng và công ty chứng khoán niêm yết trên sàn, đánh giá hiệu quả tài chính của các công ty này trong giai đoạn từ 2015-2019, với biến phụ thuộc là ROE và các biến độc lập bao gồm rủi ro nguồn vốn, tỷ giá và rủi ro thanh khoản. Kết quả đã chỉ ra mối tương quan nhất định giữa các biến số, tuy nhiên các tác giả cũng nhận định bài nghiên cứu còn hạn chế về các loại rủi ro tài chính và các loại công ty tài chính.
Rủi ro xảy ra trong tất cả các ngành nghề, và mỗi ngành nghề kinh doanh phải đối mặt với những thách thức đặc thù khi các công ty trong những ngành nghề khác nhau có cách tiếp cận đo lường và quản trị rủi ro từ các khía cạnh khác nhau. Các định chế tài chính đều tiềm ẩn rất nhiều rủi ro, đặc biệt phải nhắc đến các công ty chứng khoán bởi cơ chế hoạt động đặc thù. Giữa những rủi ro hệ thống và các loại rủi ro riêng lẻ, các công ty chứng khoán tập trung hướng đến rủi ro thị trường và thanh khoản (hay khả năng nắm giữ hoặc bán tài sản) trong danh mục của họ (Cumming & Hirtl, 2001). Dù vậy, các nghiên cứu về quản trị rủi ro tài chính trong công ty chứng khoán trước đó vẫn chưa nhiều, mục tiêu tập trung chủ yếu về tầm quan trọng của việc quản trị rủi ro đối với công ty chứng khoán, ảnh hưởng của từng loại rủi ro đến công ty chứng khoán và áp dụng các phương pháp vào hệ thống quản trị rủi ro.
Về vai trò của quản trị rủi ro đối với công ty chứng khoán, Radic và các cộng sự (2011) cũng đồng ý rằng hoạt động cốt lõi của các công ty chứng khoán tiềm ẩn rất nhiều rủi ro. Các tác giả đã phân tích chi phí và hiệu suất lợi nhuận của các mẫu là những công ty chứng khoán đến từ nhóm nước G7 (Canada, Pháp, Đức, Italia, Nhật Bản, Anh và Mỹ) và Thụy Sỹ từ trước đến thời điểm khủng hoảng tài chính khi đó. Đặc biệt, những nhân tố rủi ro (bao 5 gồm rủi ro thanh khoản và rủi ro nguồn vốn) được cho rằng có tầm quan trọng không nhỏ để tính toán chính xác hiệu suất lợi nhuận. Ali và Oudat (2020) đã nghiên cứu về mối quan hệ giữa rủi ro tài chính và hiệu quả tài chính của 11 trong 18 ngân hàng và công ty chứng khoán tại Bahrain từ 2014 đến 2018.
ROA được dùng để xác định hiệu quả tài chính tại các công ty này, trong khi bốn loại rủi ro được nghiên cứu bao gồm rủi ro nguồn vốn, rủi ro tỷ giá, rủi ro thanh khoản và rủi ro hoạt động. Kết quả chỉ ra rằng rủi ro nguồn vốn có mối quan hệ cùng chiều với hiệu quả của các doanh nghiệp, đồng thời đây cũng là rủi ro quan trọng nhất. Bài nghiên cứu cũng khuyến nghị các doanh nghiệp nên quan tâm nhiều hơn đến rủi ro hoạt động bởi nó có mối liên hệ cơ bản đến doanh thu của các công ty tài chính khi có lỗi từ hệ thống và nhân viên, hay nguy cơ tổn hại trước khoản chi phí hoạt động không lường trước. Về ảnh hưởng của từng loại rủi ro đến công ty chứng khoán, Li Wei (2018) đã nghiên cứu về quản trị rủi ro thanh khoản trong các công ty chứng khoán dưới chính sách giám sát thị trường tài chính mới tại Trung Quốc.
Tác giả cho rằng tất cả các loại rủi ro của công ty chứng khoán như rủi ro hoạt động, rủi ro tín dụng, và rủi ro thị trường cuối cùng cũng đều có khả năng chuyển thành rủi ro thanh khoản, do đó phòng ngừa rủi ro thanh khoản là việc sống còn đối với các công ty chứng khoán. Zhou và các cộng sự (2020) khi nghiên cứu về rủi ro hệ thống đã so sánh CoVaR (biến động theo thời gian phần góp của các công ty tài chính trước rủi ro hệ thống), MES (mức độ nhạy cảm của các công ty tài chính với rủi ro hệ thống) và SRISK (thâm hụt vốn dài hạn ước lượng) giữa ngân hàng, công ty bảo hiểm và công ty chứng khoán tại Trung Quốc từ tháng Một năm 2007 đến tháng Chín năm 2018. Đối với riêng công ty chứng khoán, kết quả cho thấy bắt đầu từ năm 2010, rủi ro hệ thống tại các công ty chứng khoán đứng đầu trong ba hạng mục nghiên cứu.