Chương 1: Giới thiệu đề tài Chương 2: Tổng quan các nghiên cứu trước đây Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Dữ liệu và các thống kê mô tả ban đầu Chương 5: Kết quả thực nghiệm Chương 6: Kết luận 4 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2.1 Các nghiên cứu về vai trò công cụ phòng ngừa rủi ro và kênh trú ẩn an toàn của vàng. Trước đây có rất nhiều các nghiên cứu về vai trò của vàng trong lĩnh vực kinh tế - tài chính. Một số nghiên cứu đã xem xét tính hữu ích của vàng như một công cụ phòng ngừa rủi ro chống lại lạm phát. Điển hình một số nghiên cứu sau : - Chua và Woodward (1982), xem xét có hay không việc vàng như là công cụ phòng ngừa rủi ro đối với lạm phát là hiệu quả cho các nhà đầu tư, hay vàng là công cụ phòng ngừa rủi ro chống lại lạm phát nếu thay đổi lợi nhuận từ đầu tư vàng bù đắp một cách hệ thống những thay đổi trong mức giá chung của một quốc gia.
Kết quả cho thấy vàng là một công cụ phòng ngừa rủi ro lạm phát tại Mỹ. - Ghosh và cộng sự (2004), đã sử dụng dữ liệu hàng tháng của giá vàng danh nghĩa và chỉ số bán lẻ ở Mỹ từ năm 1976 đến 1999 cùng phương pháp hồi quy và phân tích thực nghiệm cho thấy mối quan hệ dài hạn giữa giá vàng và chỉ số bán lẻ với độ co dãn được mặc định là 1. Dựa vào kết quả này, tác giả đã chứng minh vàng là một công cụ phòng ngừa rủi ro lạm phát trong dài hạn. - McCown và Zimmerman (2006), phân tích tiềm năng đầu tư vào các kim loại quý đặc biệt là vàng và bạc.
Tác giả sử dụng dữ liệu của nước Mỹ bao gồm giá giao ngay cuối tháng của vàng và bạc từ năm 1970 đến năm 2003 và các số liệu dùng với mục đích so sánh như lạm pháp, lãi suất trái phiếu kho bạc, tỷ suất sinh lợi của danh mục đầu tư chứng khoán MSCI, GDP thực hàng quý, sản lượng công nghiệp hàng tháng… Sử dụng phương pháp ước lượng CAPM và APT chỉ ra rằng vàng và bạc gần như là không chịu rủi ro thị trường, beta gần như bằng 0. Khi đưa vàng vào hệ thống danh mục đầu tư thì không làm gia tăng rủi ro của danh mục. Điều này phù hợp khi ước tính lợi nhuận của vàng trong giai đoạn 1970 – 2003 là cao hơn một chút so với lợi nhuận trái phiếu kho bạc, tuy nhiên thì lợi nhuận thu được từ bạc thì 5 lại thấp hơn nhiều so với trái phiếu kho bạc. Cả vàng và bạc đều đưa ra bằng chứng về khả năng chống lại rủi ro lạm phát.
- Worthington và Pahlavani (2007), đã kiểm tra khả năng chống lại rủi ro lạm phát của vàng dựa vào mối quan hệ lâu dài giữa giá vàng và tỷ lệ lạm phát. Dữ liệu được sử dụng là giá vàng hàng tháng và lạm phát tại Mỹ từ tháng 1 năm 1875 đến tháng 2 năm 2006. Tác giả đã sử dụng một tiến trình kiểm tra để xác định các điểm phá vở cấu trúc quan trọng nhất của mối quan hệ này và kết quả cho thấy điểm phá vỡ cấu trúc quan trọng nhất trong cả hai thị trường tương ứng khi thị trường vàng chuyển sang thị trường mở hoàn toàn và giai đoạn lạm phát tăng tốc vào những năm 1970. Các kết quả có ý nghĩa thống kê này hỗ trợ cho quan điểm cho rằng đầu tư vàng trực tiếp và gián tiếp có thể phục vụ như là một công cụ chống lại rủi ro lạm phát hiệu quả.
- Blose (2010), xem xét các thay đổi bất ngờ trong chỉ số CPI có ảnh hưởng đến giá vàng hay không. Tác giả đưa ra hai giả thuyết khác nhau có mục đích để giải thích mối quan hệ giữa lạm phát và giá vàng dự kiến. Giả thuyết 1 là hiệu ứng lạm phát dự kiện lập luận rằng những thay đối trong lạm phát kỳ vọng sẽ làm thay đổi ngay lập tức giá vàng. Giả thuyết 2 là giá trị ghi sổ cho rằng lạm phát dự kiến cao hơn sẽ gây ra lãi suất cao hơn (theo hiệu ứng Fisher), các mức lãi suất cao hơn này sẽ gây ra một chi phí cơ hội cao hơn khi đầu tư vào vàng nhưng chi phí này lại được bù đắp vào lợi nhuận khi đầu tư vào vàng trong giai đoạn lạm phát tăng.
Theo đó giả thuyết 2 hàm ý giá vàng sẽ không thay đổi khi lạm phát dự kiến thay đổi. Bài nghiên cứu thực hiện với dữ liệu chỉ số CPI và giá vàng hàng tháng từ tháng 3 năm 1988 đến tháng 2 năm 2008 với sự thay đổi bất ngờ trong chỉ số CPI được tính bằng cách lấy thay đổi thực tế trừ đi thay đổi mong đợi. Bài nghiên cứu kết luận rằng giá vàng không thay đổi do những thay đổi trong lạm phát kỳ vọng, các nhà đầu tư không thể thiết lập một chiến lược đầu cơ trên thị trường vàng để hưởng lợi dù khi biết rằng lạm phát trong tương lại sẽ khác đáng kể so với kỳ vọng của thị trường, các nhà đầu tư sẽ không thể xác định được lạm phát kỳ vọng bằng cách kiểm tra giá vàng giao ngay. 6 - Đặc biệt, nghiên cứu cho vai trò của vàng như là một công cụ phòng ngừa chống lại rủi ro lạm pháp ở Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2001 đến 2011, các tác giả Hau Le Long, Ceuster, Annaert và Amonhaemanon (2013) sử dụng chỉ số giá vàng Việt Nam và chỉ số CPI cũng đã kết luận rằng vàng là một công cụ phòng ngừa rủi ro chống lại lạm phát mặc dù lợi nhuận của vàng cho thấy là nhạy cảm hơn so với lạm phát.
Ngoài ra, tác giả còn chỉ vàng có thể kênh trú ẩn cho những biến động bất ngờ trong lạm phát cũng được quan sát thấy mặc dù các bằng chứng thống kê không hỗ trợ cho kết luận này. Một số các nghiên cứu khác đã kiểm tra trạng thái trú ẩn an toàn của vàng đối với các biến động thị trường chứng khoán và sự thay đổi trong giá dầu. Điển hình một số nghiên cứu sau: - Baur và McDermott (2010), kiểm tra vai trò của vàng trong hệ thống tài chính toàn cầu. Tác giả đưa ra giả thuyết rằng vàng đại diện cho một kênh trú ẩn an toàn đối với cổ phiếu của các nước mới nổi và đang phát triển lớn dựa trên dữ liệu từ năm 1979-2009.
Kết luận cho thấy vàng là cả một công cụ phòng ngừa rủi ro và một kênh trú ẩn an toàn cho thị trường chứng khoán lớn của châu Âu và Mỹ ngoại trừ Úc, Canada, Nhật Bản và các thị trường lớn mới nổi như các nước BRIC. Tác giả cũng phân biệt giữa dạng yếu và dạng mạnh của nơi trú ẩn an toàn và lập luận rằng vàng có thể hoạt động ổn định cho hệ thống tài chính bằng các giảm thiệt hại khi đối mặt với những cú sốc thị trường tiêu cực. Trong giai đoạn khủng hoảng tài chính gần đây, có thể thấy rằng vàng là một nơi trú ẩn an toàn nhất - Baur và Lucey (2010), kiểm định xem vàng có hoạt động như một tài sản trú ẩn an toàn trong thị trường tài chính hay không. Mục tiêu nghiên cứu là một tài sản trú ẩn an toàn trong giai đoạn thị trường biến động cục mạnh chứ không phải là một công cụ phòng ngừa rủi ro hay một tài sản đa dạng hóa cung cấp lợi ích đa dạng trong điều kiện thị trường bình thường.
Tác giả sử dụng dữ liệu bao gồm giá hàng ngày của chỉ số chứng khoán và trái phiếu MSCI, giá giao ngay của vàng vào thời điểm đóng của ở Mỹ từ ngày 30 tháng 10 năm 1995 đến 30 tháng 10 năm 2005. Kết 7 quả thực nghiệm của tác giả cho thấy rằng vàng là một nơi trú ẩn an toàn cho các cổ phiếu. Tuy nhiên, vàng thường không phải là một nơi trú ẩn an toàn cho trái phiếu trong bất kỳ dạng thị trường nào. Vàng chỉ có chức năng như một nơi trú ẩn an toàn trong một thời gian hạn chế, khoảng 15 ngày giao dịch.
Các nhà đầu tư giữ vàng hơn 15 ngày sau khi một cú sốc lợi nhuận giảm mạnh sẽ mất tiền khi đầu tư vào vàng. Phát hiện này cho thấy rằng các nhà đầu tư mua vàng vào những ngày lợi nhuận giảm cực mạnh và bán nó khi thị trường lấy lại niềm tin và biến động thấp hơn. - Miyazaki và cộng sự (2012), khám phá những phụ thuộc lẫn nhau giữa các động vàng, chứng khoán, trái phiếu và ngoại hối (đồng euro so với đồng đô la Mỹ) bằng cách sử dụng các mô hình A-DCC (asymmetry in the dynamic conditional correlation) với dữ liệu mẫu từ tháng 1 năm 2000 đến tháng 7 năm 2011 bao gồm giá vàng, chỉ số S & P500, trái phiếu chính phủ WGBIUS và tỷ giá EUR/USD. Tác giả kết luận chỉ tồn tại tính bất đối xứng trong mối tương quan có điều kiện dao động giữa vàng và tỷ giá EUR/USD và vàng hoạt động như một kênh trú ẩn an toàn trong thời kỳ khủng hoàng của thị trường chứng khoán nhưng chức năng này của vàng bị giới hạn trong thời gian dài.
- Reboredo (2013), đánh giá vai trò của vàng như một công cụ phòng ngừa rủi ro hoặc nơi trú ẩn an toàn chống lại biến động giá dầu. Tác giả sử dụng một cách tiếp cận copulas để phân tích cấu trúc phụ thuộc giữa thị trường có điều kiện bình thường và thị trường biến động cực mạnh sử dụng dữ liệu hàng tuần của giá vàng và giá dầu thô từ tháng 7 năm 2000 đến tháng 9 năm 2011. Bằng chứng thực nghiệm cho thấy không có sự phụ thuộc trung bình giữa vàng và dầu nên vàng không thể tự bảo hiểm chống lại biến động giá dầu, có độc lập về phía đuôi giữa hai thị trường, chỉ ra rằng vàng có thể hoạt động như một nơi trú ẩn an toàn hiệu quả chống lại biến động giá dầu cực mạnh. Các nghiên cứu khác phân tích mối quan hệ giữa vàng, dầu và tỷ giá hối đoái, điển hình là các nghiên cứu sau : 8 - Sari et al (2010) điều tra mối quan hệ giữa giá giao ngay của kim loại quý, giá dầu và tỷ giá EUR/USD.
Bài nghiên cứu sử dụng chuỗi thời gian hàng ngày từ tháng 4 năm 1999 đến tháng 10 năm 2007 cho giá đóng cửa của vàng, bạc, bạch kim và palladium, giá giao ngay dầu và tỷ giá hối đoái EUR/USD. Tác giả cho thấy có vẻ như không tồn tại mối quan hệ cân bằng dài hạn giữa tỷ suất sinh lợi của giá giao ngay và những thay đổi trong tỷ giá hối đoái.