CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI SUẤT TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG 1. Công tác quản trị rủi ro trong hoạt động của ngân hàng 1. Rủi ro trong hoạt động của Ngân hàng 1. Khái quát: Hoạt động của ngân hàng rất nhạy cảm, liên quan đến nhiều lĩnh v ực khác nhau của nền kinh tế, chịu sự tác động của nhiều nhân tố khách quan và chủ quan như kinh tế, chính trị, xã hội.
Việc các ngân hàng liên tục mở rộng mạng lưới, giới thiệu các dịch vụ, sản phẩm mới cũng như việc áp dụng công nghệ hiện đại đòi hỏi một chiến lược quản trị rủi ro hoạt động đồng bộ nhằm quản lý và giảm thiểu rủi ro trong quá trình hoạt động. Hơn nữa, ngân hàng hoạt động không những chỉ trong hoạt động huy động vốn và cho vay mà còn rất nhiều lĩnh vực khác như thanh toán, bảo lãnh, kinh doanh ngoại hối, chứng khoán, góp vốn liên doanh, dịch vụ thẻ đại lý… Vì vậy có thể nói rằng rủi ro ngân hàng rất đa dạng: rủi ro lãi suất, rủi ro ngoại hối, rủi ro thanh khoản, rủi ro tín dụng… 1. Ảnh hưởng của rủi ro trong hoạt động của Ngân hàng: Đối với Ngân hàng: Một trong những nhân tố có thể đo lường được rủi ro trong hoạt động của Ngân hàng đó chính là lợi nhuận. Sự sụt giảm lợi nhuận qua các giai đoạn kinh doanh của Ngân hàng là một bằng chứng cho việc tác động của một hay nhiều loại rủi ro phát sinh từ chính các lĩnh v ực mà Ngân hàng đang thực hiện kinh doanh.
Hậu quả của việc hứng chịu rủi ro sẽ làm giảm giá trị tài sản của chính Ngân hàng, của cổ đông và gây mất uy tín đối với chính Ngân hàng, chảy máu chất xám. Rủi ro phát sinh ở một số lĩnh vực luôn có những tác động dây chuyền đến những lĩnh vực khác như tác động của rủi ro. Điển hình như r ủi ro lãi suất trực tiếp làm giảm lợi nhuận Ngân hàng, gây nên sự hoài nghi về tính lành mạnh về tình hình tài chính sẽ dẫn đến sự sụt giảm trong hoạt động huy động vốn từ nền kinh tế ảnh hưởng trực 2 tiếp đến tính thanh khoản, rủi ro thanh khoản phát sinh. Nếu không giải quyết một cách thấu đáo rủi ro thanh khoản có thể gây ra sự sụp đổ của chính Ngân hàng này.
Đối với khách hàng: Ngân hàng hứng chịu rủi ro sẽ phải gia tăng các nguồn thu trong đó ảnh hưởng trực tiếp đến lãi suất cho vay, phí trong hoạt động tín dụng, trong thanh toán… ảnh hưởng trực tiếp làm gia tăng chi phí của Khách hàng trong quan hệ với Ngân hàng. Rủi ro thanh khoản phát sinh có thể tạo ra sự đình trệ trong hoạt động cho vay. Vốn kinh doanh không thể luân chuyển khi các Ngân hàng thu hồi vốn từ hoạt động này khiến việc duy trì sản xuất kinh doanh của Khách hàng rất khó khăn, mất thanh khoản, mất uy tín với bạn hàng từ đó gián tiếp làm sụt giảm lợi nhuận hoặc gây nên sự phá sản của bất cứ Khách hàng nào. Ngân hàng phá sản làm tăng chi phí của khách hàng gia tăng khi phải tìm kiếm các Ngân hàng khác thay thế.
Tiền gửi không thể thu hồi khi Ngân hàng phá sản có thể dẫn đến sự phá sản đồng loạt gây ảnh hưởng không chỉ trên lĩnh vực kinh tế mà còn trên lĩnh vực an sinh xã hội. Đối với nền kinh tế: Một ngân hàng sụp đổ do hứng chịu hậu quả của công tác quản trị rủi ro kém có thể dẫn đến hiệu ứng “domino” làm suy giảm niềm tin của công chúng vào hệ thống Ngân hàng từ đó có thể dẫn đến sự sụp đổ của các ngân hàng trong nước, trong khu vực và trên thế giới ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của nền kinh tế. Điển hình trong thời gian gần đây, sự sụp đổ của các Ngân hàng Mỹ đã có tác động rất lớn đến nền kinh tế của nước này và tác động này đã lan rộng nhanh chóng đến các nền kinh tế trong khu vực và trên thế giới, làm suy giảm nền kinh tế toàn cầu. Chi phí cho các chính sách cứu vãn nền kinh tế thường rất cao làm thâm hụt ngân sách quốc gia mà hiệu quả của nó là chưa thể tính toán một cách chính xác.
Ngoài ra một hệ thống ngân hàng yếu kém làm suy giảm hình ảnh của quốc gia trong công tác kêu gọi đầu tư quốc tế, làm suy giảm khả năng tăng trưởng của bất cứ quốc gia nào. Tóm lại rủi ro trong của Ngân hàng không những quyết định sự duy trì, phát triển của một Ngân hàng mà còn có thể ảnh hưởng dây chuyền đến tất cả các lĩnh 3 vực của nền kinh tế không chỉ trên lĩnh vực tài chính mà còn tác động đến các lĩnh vực khác như an sinh xã hội, chính trị… Tùy vào mức độ hội nhập mà loại rủi ro này có thể ảnh hưởng đến cả môi trường đầu tư, đến nền kinh tế các nước trong khu vực cũng như trên thế giới. Các loại hình rủi ro trong hoạt động của Ngân hàng Rủi ro lãi suất: Rủi ro lãi suất là khả năng thu nhập giảm do chênh lệch lãi suất giảm khi lãi suất thị trường thay đổi ngoài dự kiến gắn với thay đổi nhiều nhân tố khác như cấu trúc và kỳ hạn của tài sản và nguồn, quy mô và kỳ hạn của các hợp đồng kỳ hạn…. Qúa trình chuyển hóa tài sản là một chức năng đặc biệt cơ bản của Ngân hàng.
Qúa trình chuyển hóa tài sản bao gồm việc mua chứng khoán sơ cấp, tức là sử dụng vốn; và phát hành chứng khoán sơ cấp, tức là huy động vốn. Kỳ hạn và độ thanh khoản của các chứng khoán sơ cấp trong danh mục đầu tư thuộc tài sản có thường không cân xứng với các chứng khoán thứ cấp thuộc tài sản nợ. Sự không cân xứng với các chứng khoán thứ cấp thuộc tài sản nợ. Sự không cân xứng về kỳ hạn giữa tài sản có và tài sản nợ làm cho ngân hàng phải chịu rủi ro về lãi suất.
Gỉa sử lãi suất huy động vốn là 9%/năm và lãi su ất đầu tư là 10%/năm. Sau năm thứ nhất, bằng cách vay ngắn hạn 1 năm và cho vay dài hạn 2 năm, ngân hàng thu được lợi nhuận từ chênh lệch lãi suất là 1%. Nếu lãi suất thị trường thay đổi từ năm thứ 1 qua năm thứ 2 thì ngân hàng có thể tái tài trợ tài sản nợ với mức lãi suất 9%/năm; và do đó, mức lợi nhuận thu được trong năm thứ 2 sẽ bằng với năm thứ 1 là 1%. Tuy nhiên ở trường hợp Ngân hàng phải huy động với lãi suất 11%, khi đó lợi nhuận của Ngân hàng sẽ là -1%.
Như vậy có thể kết luận rằng, trong mọi trường hợp nếu ngân hàng duy trì tài sản có có kỳ hạn dài hơn so với tài sản nợ thì ngân hàng luôn đứng trước rủi ro về lãi suất trong việc tái tài trợ đối với tài sản nợ. Rủi ro sẽ trở thành hiện thực nếu lãi suất huy động vốn bổ sung cho các năm tiếp theo tăng lên trên mức lãi suất đầu tư tín dụng dài hạn. 4 Trường hợp ngược lại, ngân hàng huy động vốn có kỳ hạn dài và đầu tư có kỳ hạn ngắn. Ví dụ, ngân hàng huy động vốn với lãi suất 9% kỳ hạn 2 năm và đầu tư vào tài sàn có mức lãi suất là 10%, kỳ hạn là 1 năm.
Tương tự trường hợp đã nêu ở trên, sau năm thứ 1 lợi nhuận sẽ là 1%. Vì tài sản có chỉ có kỳ hạn là 1 năm, cho nên sau năm thứ nhất tài sản có đến hạn và ngân hàng lại tiếp tục tái đầu tư. Gỉa sử lãi suất đầu tư thị trường năm thứ 2 giảm xuống chỉ còn 8%, rủi ro lãi suất tiếp tục phát sinh gây nên mức lỗ 1% cho ngân hàng. Kết quả là ngân hàng gặp phải rủi ro về lãi suất tái đầu tư trong trường hợp tài sản có có kỳ hạn ngắn hơn so với tài sản nợ.
Ngoài rủi ro lãi suất tái tài trợ tài sản nợ hoặc tái đầu tư tài sản có, thì khi lãi suất thị trường thay đổi ngân hàng còn có thể gặp phải rủi ro giảm giá trị tài sản. Nếu lãi suất thị trường tăng lên thì m ức chiết khấu giá trị tài sản cũng tăng lên, và do đó giá trị hiện tại của tài sản có và tài sản nợ giảm xuống. Ngược lại, nếu lãi suất thị trường giảm thì giá trị tài sản có và tài sản nợ sẽ tăng lên. Do đó, nếu kỳ hạn của tài sản có và tài sản nợ không cân xứng nhau, ví dụ tài sản có có kỳ hạn dài hơn tài sản nợ, thì khi lãi suất thị trường tăng, giá trị của tài sản có thể giảm nhanh và nhiều hơn so với sự giảm giá trị của tài sản nợ.
Rủi ro giảm giá trị tài sản khi lãi suất thay đổi thuộc loại rủi ro về lãi suất và có thể dẫn đến thiệt hại về tài sản của ngân hàng. Như vậy nếu ngân hàng duy trì cơ c ấu tài sản có và tài sản nợ với những kỳ hạn không cân xứng nhau, thì phải chịu những rủi ro về lãi suất trong việc tái tài trợ tài sản có và tài sản nợ, hoặc rủi ro về lãi suất do giá trị của tài sản thay đổi khi lãi suất thị trường biến động. Rủi ro ngoại hối: Gỉa sử ngân hàng cấp tín dụng bằng USD cho khách hàng của mình. Khi đồng USD giảm giá so với đồng VND, thì gốc và lãi của khoản vay bằng USD thu về sẽ giảm khi quy đổi sang VND.
Thậm chí trong trường hợp nếu USD giảm giá đáng kể, thì gốc và lãi khi chuyển đổi sang VND có thể là thấp hơn số tiền gốc đầu tư ban đầu, do đó, kết quả đầu tư sẽ âm. Nghĩa là khi chúng ta chuyển đổi gốc và lãi từ USD sang VND, thì số tiền lãi thu được chưa đủ để bù đắp rủi ro hối đoái. 5 Các ngân hảng tại Việt Nam đều có thể vay bằng USD và cho vay lại bằng USD. Gỉa sử ngân hàng cho vay bằng USD nhiều hơn là huy động vốn bằng USD, ví dụ cho vay 100 triệu USD và huy động chỉ là 80 triệu USD, khoản chênh lệch 20 triệu USD được tài trợ từ vốn huy động bằng VND (chuyển từ VND ra USD để cho vay).
Tại lúc này ngân hàng có trạng thái ngoại tệ thường ròng là 20 triệu USD thuộc tài sản có, nghĩa là ngân hàng nắm giữ tài sản có bằng ngoại tệ hơn tài sản nợ bằng ngoại tệ.