CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ RỦI RO TÁC NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Cơ sở lý luận về QTRRTN của ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm RRTN Theo S. Tchernobai, (2006), thì RRTN được định nghĩa là nguy cơ tổn thất do không có quy trình xử lý nội bộ hoặc quy trình đạt yêu cầu, con người và hệ thống, hoặc từ các sự kiện bên ngoài. Theo Basel II: RRTN được định nghĩa là nguy cơ tổn thất do các quy trình, con người và hệ thống nội bộ không đạt yêu cầu hoặc không hoạt động, hay do các sự kiện bên ngoài. Khái niệm RRTN bao gồm cả rủi ro luật pháp, nhưng không bao gồm rủi ro chiến lược và rủi ro uy tín doanh nghiệp.
Tác giả Nguyễn Hoài Linh, (2012), cho rằng RRTN là các tổn thất do con người, do quá trình xử lý công việc, do hệ thống nội bộ không đầy đủ hoặc không hoạt động, hoặc do các sự kiện bên ngoài gây ra. Có thể hiểu RRTN là rủi ro phát sinh do yếu tố con người (cẩu thả, gian lận); sự yếu kém trong hệ thống công nghệ, thông tin; sự sơ hở, thiếu các quy định của các NHTM. Định nghĩa này bao gồm cả rủi ro pháp lý, nhưng không bao gồm rủi ro chiến lược và rủi ro danh tiếng. RRTN bao gồm: gian lận của nhân viên, các vụ trộm, lỗi hệ thống, mất điện, lũ lụt, hoặc các lý do khác dẫn đến các sai sót ở một ngân hàng mà không thể phân loại vào các rủi ro khác.
RRTN cũng bao gồm cả rủi ro tuân thủ. Rủi ro tuân thủ là rủi ro tiềm ẩn ảnh hưởng đến thu nhập và vốn phát sinh do việc không tuân thủ pháp luật, quy định, quy chế, thông lệ tốt, chính sách và quy trình nội bộ hoặc các chuẩn mực đạo đức khác.2 Phân loại RRTN Theo định nghĩa của Basel 2 thì RRTN được xác định dựa trên nguyên nhân gây ra RRTN. a) Rủi ro từ bên trong nội bộ ngân hàng Rủi ro do yếu tố con người. RRTN tăng lên cùng với sự tham gia của con người vào hoạt động khởi tạo, phê duyệt, báo cáo hoặc điều chỉnh một giao dịch.
NH càng có nhiều nhân viên, nhiều địa điểm giao dịch và khách hàng thì RRTN càng cao. Số lượng nhân viên tăng nhanh là dấu hiệu tăng RRTN. + Do cán bộ, nhân viên thực hiện các nghiệp vụ, nhiệm vụ không được ủy quyền hoặc phê duyệt vượt quá thẩm quyền cho phép. + Do cán bộ tác nghiệp không tuân thủ đúng các quy chế, quy trình nghiệp vụ như cho vay không đúng đối tượng, không đúng mục đích sử dụng vốn vay, hạch toán nhầm tài khoản không sửa chữa kịp thời, chưa chấp hành nghiêm chỉnh các quy chế bảo mật bằng mã khóa điện tử,… + Rủi ro về đạo đức nghề nghiệp như: nhân viên kế toán, thủ quỹ và kiểm soát thông đồng để chiếm dụng tiền mặt trong kho, hoặc có thể biển thủ số tiền nộp vào tài khoản của khách hàng; cán bộ tín dụng lợi dụng khách hàng để vay kế, đòi hỏi khách hàng phải trả phí riêng đối với cán bộ, Rủi ro do quy định, quy trình nghiệp vụ: RRTN tăng theo mức độ phức tạp của giao dịch.
Giao dịch có nhiều bước, nhiều quy trình, hoặc nhiều mốc tham chiếu; các giao dịch đòi hỏi phải có kiểm soát nội bộ và phê duyệt; và các giao dịch không được xác định rõ ràng hoặc không được thực hiện theo đúng chính sách quy định. Mọi bộ phận hay quy trình của một tổ chức tín dụng như từ việc lập kế hoạch, nhận tiền gửi, huy động nguồn nhân lực thông qua tín dụng và các hợp đồng, ra quyết định đầu tư, xử lý giao dịch đều chịu RRTN. 6 + Do quy định, quy trình nghiệp vụ có nhiều điể m bất cập, chưa hoàn chỉnh, tạo kẻ hở để kẻ xấu lợi dụng gây thiệt hại. + Quy định, quy trình nghiệp vụ chưa phù hợp, gây khó khăn cho cán bộ khi tác nghiệp.
Rủi ro từ hệ thống hỗ trợ, Core banking: + Do dữ liệu không đầy đủ hoặc hệ thống bảo mật thông tin không an toàn. + Hệ thống bị ngừng hoạt động do máy chủ bị trục trặc kỹ thuật, hoặc do sự cố đường truyền,… b) Rủi ro do các tác động bên ngoài: Sự kiện bên ngoài là các yếu tố nằm ngoài sự kiểm soát của ngân hàng cũng góp phần gây ra RRTN. Rủi ro do hành vi lừa đảo, trộm cắp và/hoặc phạm tội của các đối tượng bên ngoài ngân hàng (hành động phá hoại, đánh bom. Rủi ro do các sự kiện bên ngoài và/hoặc do tự nhiên (động đất, bão.) gây gián đoạn /thiệt hại cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Rủi ro các văn bản, quy định của chính phủ, các ban ngành liên quan có sự thay đổi hoặc có những quy định mới làm ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng. Tổn thất do các sự kiện bên ngoài gây ra có thể được giảm bớt thông qua bảo hiểm, kế hoạch dự phòng và hệ thống phục hồi. Việc lập kế hoạch kinh doanh liên tục là một cách quan trọng giúp ngân hàng chuẩn bị cho các rủi ro từ các sự kiện bên ngoài và quản lý những rủi ro này. c) Các vấn đề khác như: Khối lượng và giá trị giao dịch, mức độ phức tạp của giao dịch, những thay đổi mà ngân hàng đang gặp phải (quyền sở hữu mới, lãnh đạo mới, nhân viên mới, sản phẩm mới, những thay đổi về chính sách, quy trình, hệ thống vv.
Các ngân hàng đang trong quá trình sáp nhập với tổ chức hoạt động ngân hàng khác thì có mức độ RRTN đặc biệt cao.3 Nội dung của QTRRTN 1.1 Khái niệm QTRRTN QTRRTN là quá trình tổ chức tín dụng tiến hành các hoạt động tác động đến RRTN, bao gồm việc thiết lập cơ cấu tổ chức, xây dựng hệ thống các chính sách, phương pháp quản lý RRTN để thực hiện quá trình quản lý rủi ro đó là xác định, đo lường, đánh giá, quản lý, giám sát và kiểm tra kiểm soát RRTN nhằm bảo đảm hạn chế tới mức thấp nhất rủi ro xảy ra.2 Xác định RRTN a) Xác định dấu hiệu RRTN Xác định các dấu hiệu RRTN gồm các nội dung: nguy cơ rủi ro, nguyên nhân gây ra rủi ro, đối tượng gây rủi ro, mức độ rủi ro. Xác định dấu hiệu RRTN theo 07 nhóm (Dấu hiệu rủi ro liên quan đến mô hình tổ chức, cán bộ và an toàn nơi làm việc; Dấu hiệu rủi ro liên quan đến cơ chế, chính sách, quy định; Dấu hiệu rủi ro liên quan đến gian lận nội bộ; Dấu hiệu rủi ro liên quan đến gian lận bên ngoài; Dấu hiệu rủi ro liên quan đến quá trình xử lý công việc; Dấu hiệu rủi ro liên quan đến hệ thống công nghệ thông tin; Dấu hiệu rủi ro liên quan đến thiệt hại tài sản). b) Sự cố RRTN Các đơn vị chức năng chủ động theo dõi, báo cáo các sự cố RRTN. Ban quản lý rủi ro thị trường và tác nghiệp làm đầu mối xây dựng, lưu trữ bộ dữ liệu tổn thất RRTN của ngân hàng.
Báo cáo sự cố RRTN c) Giao dịch nghi ngờ, bất thường Các loại báo cáo giao dịch nghi ngờ, bất thường gồm: Báo cáo giao dịch nghi ngờ, bất thường được xây dựng trên cơ sở các tiêu chí do Ban quản lý rủi ro thị trường và tác nghiệp phối hợp với các Ban nghiệp vụ đưa ra; Báo cáo 8 giao dịch nghi ngờ, bất thường được xây dựng cho từng phân hệ nghiệp vụ trong hệ thống chính và các hệ thống khác có liên quan. Căn cứ yêu cầu quản lý, lập báo cáo theo định kỳ hoặc đột xuất. Quản lý truy cập chương trình Báo cáo giao dịch nghi ngờ, bất thường.3 Đo lường RRTN Các phương pháp lượng hóa RRTN theo chuẩn mực của Basel II Phương pháp 1: Phương pháp chỉ số cơ bản BIA Các ngân hàng đang sử dụng phương pháp chỉ số cơ bản cần nắm giữ mức vốn đối với RRTN bằng một tỷ lệ không đổi 15% của tổng thu nhập dương trung bình trong 03 năm gần nhất của toàn ngân hàng, tức là nếu có bất kỳ năm nào mà tổng thu nhập âm hoặc bằng 0 thì số liệu của năm đó không được tính vào giá trị trung bình. KBIA = Trong đó: KBIA: là chi phí vốn trong phương pháp chỉ số cơ bản GI: là tổng thu nhập năm của 03 năm gần nhất thỏa mãn điều kiện thu nhập dương.
n = số lượng lần của ba năm kế trước mà tổng thu nhập là dương. α = 15%, do Ủy ban quy định, có quan hệ với mức độ mở rộng ngành của mức đủ vốn yêu cầu đối với mức độ mở rộng ngành của chỉ số. Tổng thu nhập hàng năm được tính bằng thu nhập lãi ròng, cộng với thu nhập phi lãi ròng theo định nghĩa bởi các cơ quan giám sát quốc gia và/ hoặc các tiêu chuẩn kế toán quốc gia. Phương pháp 2: Phương pháp tiêu chuẩn hóa SA 9 Theo phương pháp này, các hoạt động của ngân hàng được chia thành 8 mảng hoạt động chính.
Các yếu tố Beta đặt cho các mảng hoạt động kinh doanh Tài trợ doanh nghiệp (β1) 8% Chi trả và thanh toán (β4) 8% Thương mại và bán hàng (β2) 8% Các dịch vụ ngân hàng đại lý (β6) 5% Ngân hàng bán lẻ (β3) 2% Quản lý tài sản (β7) 2% Ngân hàng thương mại (β4) 5% Môi giới bán lẻ (β8) 2% Tổng chi phí vốn được tính theo công thức sau: KTSA = { Trong đó : KTSA = Chi phí vốn theo Phương pháp Tiêu chuẩn hóa GI1-8 = Tổng thu nhập hàng năm cho mỗi ngành kinh doanh 1-8 = Nhân tố vốn cho mỗi dòng kinh doanh, liên hệ mức độ vốn yêu cầu với mức độ tổng thu nhập của mỗi dòng kinh doanh. Tổng chi phí vốn được tính bằng bình quân 03 năm của tổng các chi phí vốn rủi ro của 08 mảng hoạt động kinh doanh trong mỗi năm. Trong bất kỳ năm nào, các chi phí vốn âm trong một mảng hoạt động nào có thể bù đắp bằng chi phí vốn dương của mảng hoạt động khác không có giới hạn. Tuy nhiên, khi tổng chi phí vốn của các mảng hoạt động trong 01 năm là âm thì đầu vào tử số cho năm đó sẽ bằng 0.
Phương pháp 3: Phương pháp đo lường tiên tiến AMA AMA cho phép NHTM điều chỉnh vốn bằng với đo lường rủi ro được tính toán bằng hệ thống đo lường RRTN nội bộ của Ngân hàng đó.