lời mở đầu, danh mục các chữ viết tắt, danh mục các bảng, danh mục các hình thì luận văn dự kiến có kết cấu đƣợc chia làm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận chính về thanh toán không dùng tiền mặt của Ngân hàng thƣơng mại Chƣơng 2: Thực trạng thanh toán không dùng tiền mặt tại VietinBank hiện nay 9 Chƣơng 3: Triển vọng, định hƣớng và giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt tại VietinBank Do trình độ và thời gian nghiên cứu còn hạn chế nên luận văn khó tránh khỏi những sai sót. Rất mong nhận đƣợc sự góp ý của thầy giáo và các bạn. Xin trân trọng cảm ơn ! 10 Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Các khái niệm liên quan hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt 1.1 Khái niệm thanh toán không dùng tiền mặt “Thanh toán” đƣợc hiểu một cách khái quát nhất là việc thực hiện chi trả bằng tiền giữa các bên trong những mối quan hệ kinh tế nhất định.
Theo quan điểm hiện đại, tiền là bất cứ thứ gì đƣợc chấp nhận chung trong việc thanh toán trao đổi, để lấy hàng hóa dịch vụ hoặc trong việc trả nợ. Tiền tệ đi vào lƣu thông thực hiện chức năng phƣơng tiện thanh toán diễn ra dƣới hai hình thức là thanh toán dùng tiền mặt (TTDTM) và thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM). Về quan điểm của các cơ quan quản lý nhà nƣớc, theo Nghị định số 101/2012/NĐ-CP ngày 22/11/2012 của Chính phủ về TTKDTM, Nghị định số 80/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định 101/2012/NĐ-CP và Thông tƣ 46/2014/NHNN ngày 31/12/2014 của Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam hƣớng dẫn về dịch vụ TTKDTM: “Dịch vụ TTKDTM là các dịch vụ thanh toán qua tài khoản ngân hàng và một số dịch vụ khác thực hiện thanh toán không qua tài khoản ngân hàng”(5,Điều 4) Theo tác giả Đặng Công Hoàn (2015): “TTKDTM là một hoạt động dịch vụ thanh toán đƣợc thực hiện bằng cách sử dụng các công cụ/phƣơng thức thanh toán để bù trừ tiền từ tài khoản/hạn mức tiền của ngƣời phải trả sang tài khoản của ngƣời thụ hƣởng hoặc đƣợc bù trừ lẫn nhau thông qua đơn vị cung ứng DVTT. (8,trang 15) Từ những quan điểm trên, có thể hiểu “TTKDTM là một hình thức vận động của tiền tệ.
TTKDTM trong thanh toán tiền điện đóng vai trò trung gian thực hiện yêu cầu của khách hàng nhằm thỏa mãn mục đích của họ thông qua các hình thức thanh toán, thu hộ, chi hộ, chuyển tiền… bằng cách trích chuyển trên sổ sách, ghi chép cắt chuyển tiền từ người này sang người khác, từ nơi này sang nơi khác không sử dụng đến tiền mặt.” 11 Nhƣ vậy, có thể hiểu, dịch vụ TTKDTM là loại hình dịch vụ đƣợc các ngân hàng thƣơng mại cung cấp để khách hàng thanh toán hàng hóa và dịch vụ qua tài khoản của khách hàng mở tại ngân hàng mà không sử dụng đến tiền mặt.2 Đặc điểm của thanh toán không dùng tiền mặt Thanh toán không dùng tiền mặt là một hình thức vận động tiền tệ mà ở đây tiền vừa là công cụ để kế toán, vừa là công cụ để chuyển hóa hình thức giá trị của hàng hóa và dịch vụ. TTKDTM có ba đặc điểm chính sau: Thứ nhất: Đặc điểm cơ bản của dịch vụ TTKDTM là sự vận động của tiền tệ, độc lập với sự vận động của hàng hóa cả về thời gian lẫn không gian và thƣờng không có sự khớp nhau. Đây là đặc điểm quan trọng và nổi bật nhất của hình thức TTKDTM. Trong TTKDTM, vật trung gian trao đổi không xuất hiện nhƣ trong hình thức thanh toán dùng tiền mặt theo kiểu Hàng – Tiền – Hàng (H-T-H) mà chỉ xuất hiện dƣới dạng tiền kế toán hay tiền ghi sổ và đƣợc ghi chép trên các chứng từ sổ sách kế toán, đây là đặc điểm riêng của thanh toán không dùng tiền mặt.
Thứ hai, TTKDTM là sử dụng tiền ghi sổ hay còn gọi là tiền bút tệ. Đây là đặc điểm cơ bản nhất của TTKDTM. Việc thanh toán đƣợc thực hiện bởi việc trích chuyển tiền từ tài khoản của ngƣời mua sang tài khoản của ngƣời bán tại ngân hàng hoặc bằng cách bù trừ lẫn nhau. Thứ ba: Trong TTKDTM, mỗi khoản thanh toán có ít nhất ba (03) chủ thể tham gia bao gồm ngƣời trả tiền, ngƣời nhận tiền và các trung gian thanh toán.
Ngƣời trả tiền có thể là ngƣời mua hàng, ngƣời nhận dịch vụ, nộp thuế, trả nợ hoặc chuyển nhƣợng một khoản tiền nào đó. Ngƣời nhận tiền hay còn gọi là ngƣời thụ hƣởng, là ngƣời đƣợc hƣởng một khoản tiền nào đó do cung ứng sản phẩm dịch vụ , do quy định của pháp luật, do thiện chí hay ý muốn của ngƣời khác. Và chủ thể quan trọng trong thanh toán là các trung gian thanh toán nhƣ các NHTM, Kho bạc Nhà nƣớc (KBNN). Các nghiệp vụ thanh toán đƣợc tiến hành sử dụng các chứng từ thanh toán riêng.
Chứng từ thanh toán là các phƣơng tiện chuyển tải những điều kiện thanh toán và đƣợc sử dụng làm căn cứ trong việc thực hiện chi trả, bao gồm lệnh thu hoặc lệnh chi ở những mức độ khác nhau. Mỗi chứng từ thanh toán chứa 12 đựng những yếu tố cơ bản nhƣ: Giấy báo liên hàng, bảng kê thanh toán… Những chứng từ kể trên phục vụ cho việc xử lý kế toán của các ngân hàng. Ngân hàng có thể đóng vai trò vừa là ngƣời tổ chức vừa là ngƣời thực hiện các khoản thanh toán. Chỉ có ngân hàng, ngƣời quản lý tài khoản tiền gửi của các khách hàng mới đƣợc quyền trích chuyển những tài khoản này theo các nguyên tắc chuyên môn đặc thù nhƣ là một nghiệp vụ riêng của mình.
Với nghiệp vụ này, ngân hàng trở thành trung tâm thanh toán đối với các khách hàng của mình. Nhƣ vậy với những đặc điểm nêu trên, TTKDTM nếu đƣợc tổ chức và thực hiện tốt sẽ phát huy đƣợc tác dụng tích cực của nó. Trong tƣơng lai, theo đà phát triển của xã hội và theo nhu cầu của thị trƣờng, TTKDTM sẽ giữ một vị trí cực kỳ quan trọng trong việc lƣu chuyển tiền tệ và trong thanh toán giá trị của nền kinh tế.3 Vai trò thanh toán không dùng tiền mặt TTKDTM đóng vai trò quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân, đặc biệt là trong cơ chế thị trƣờng phát triển nhƣ hiện nay. Vai trò của TTKDTM đƣợc thể hiện trên các khía cạnh đối với các đối tƣợng nhƣ sau: Đối với khách hàng TTKDTM mang lại sự tiện lợi cho khách hàng, nhờ việc thanh toán đƣợc diễn ra nhanh chóng, đẩy nhanh tốc độ chu chuyển vốn, tiết kiệm đƣợc các chi phí phát sinh (chi phí vận chuyển tiền mặt, chi phí kiểm đếm…) từ đó, giảm chi phí đầu vào, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao hiệu quả sản xuất, phát triển kinh doanh.
Các hình thức TTKDTM do các trung gian thanh toán cung ứng dịch vụ mang tới sự tiện lợi, nhanh chóng, chính xác, an toàn và bảo mật cho khách hàng. Ngày nay với sự phát triển về công nghệ, các ngân hàng ngày càng chú trọng việc đầu tƣ công nghệ trong việc cung ứng sản phẩm dịch vụ, đặc biệt trong hoạt động thanh toán nói riêng. Sự đa dạng hóa các sản phẩm, dịch vụ tạo điều kiện cho khách hàng có nhiều sự lựa chọn trong việc sử dụng dịch vụ với nhiều tiện ích, chi phí giao dịch thấp và đem lại hiệu quả tối ƣu nhất. Đối với Ngân hàng 13 Lợi ích đầu tiên đem lại cho các ngân hàng khi cung cấp dịch vụ TTKDTM tới khách hàng là làm tăng thu nhập từ phí dịch vụ, từ đó giúp nâng cao khả năng tài chính, khả năng cạnh tranh và tạo sự phát triển bền vững cho ngân hàng nói riêng và cả nền kinh tế nói chung.
Nhờ việc khai thác và sử dụng linh hoạt nguồn vốn tiền gửi thanh toán của các tổ chức kinh tế và cá nhân trên tài khoản tiền gửi thanh toán, NHTM có thể thu đƣợc hiệu quả kinh tế cao. Đồng thời, cung ứng dịch vụ TTKDTM còn tạo điều kiện cho sự phát triển của các hoạt động dịch vụ NH: dịch vụ thẻ, dịch vụ chuyển tiền điện tử, thanh toán trực tuyến… Bên cạnh đó, TTKDTM giúp cho việc thanh toán bù trừ giữa các ngân hàng đƣợc diễn ra thuận lợi và việc lƣu thông tiền tệ đƣợc thực hiện nhanh chóng đồng thời dễ kiểm soát. Đối với nền kinh tế Vai trò của TTKDTM đối với nền kinh tế thị trƣờng đƣợc thể hiện trên các khía cạnh sau: Thứ nhất, TTKDTM làm tiết kiệm chi phí lƣu thông, chi phí in ấn, bảo quản, kiểm đếm, bốc rỡ, chi phí giao nhận tiền mặt, tổ chức điều hòa lƣu thông tiền mặt…, đặc biệt với những món thanh toán có giá trị và khoảng cách địa lý lớn. Thứ hai, TTKDTM là công cụ cạnh tranh hiệu quả giữa các ngân hàng.
Bên cạnh các sản phẩm truyền thống, ngân hàng cạnh tranh với nhau bằng các sản phẩm dịch vụ thanh toán ứng dụng công nghệ cao không ngừng nâng cao trải nghiệm khách hàng. TTKDTM nếu đƣợc tổ chức tốt sẽ tạo đƣợc sự hấp dẫn đối với khách hàng không chỉ với dịch vụ thanh toán mà cả các sản phẩm khác của ngân hàng, giúp ngân hàng gia tăng lợi nhuận từ các khoản thu phí dịch vụ. Thứ ba, TTKDTM thúc đẩy sản xuất, lƣu thông hàng hóa mở rộng và phát triển,. Bằng việc xóa bỏ sự bó hẹp trong phạm vi một vùng, một quốc gia , đồng thời cho phép thanh toán với khối lƣợng hàng hóa lớn, TTDTM góp phần thúc đẩy tốc độ thanh toán, tốc độ chu chuyển vốn và quá trình tái sản xuất xã hội.
Thanh toán đƣợc thực hiện qua các trung gian tài chính đƣợc diễn ra nhanh chóng, thuận tiện, tiết kiệm và đảm bảo an toàn tài sản, từ đó góp phần thúc đẩy quá t nh sản xuất hàng hóa thông suốt, thúc đẩy nền kinh tế phát triển. 14 Thứ tư, TTKDTM tạo nguồn vốn cho hệ thống NHTM. ngân hàng có thể sử dụng lƣợng tiền nhàn rỗi khi khách hàng tới gửi tiền để kinh doanh tạo lợi nhuận. Hơn nữa, thông qua nghiệp vụ này các NHTM đã thực hiện chức năng “tạo tiền”.
Tiền ghi sổ đƣợc tạo ra khi ngân hàng tiến hành trích chuyển từ tài khoản của Bên này sang tài khoản của Bên khác. Nói cách khác, TTKDTM tạo điều kiện để NHNN thực hiện tốt công tác quản lý và điều hành chính sách tiền tệ, điều tiết nền kinh tế phát triển một cách bền vững.4 Các phương thức thanh toán không dùng tiền mặt Hiện nay, thế giới đang áp dụng nhiều hình thức TTKDTM vô cùng đa dạng và phong phú.