Chương 1: Cơ sở lý luận về nợ xấu và quản lý nợ xấu trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng nợ xấu và quản lý nợ xấu tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam 5 Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý nợ xấu tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam. 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NỢ XẤU TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC NHTM 1. Rủi ro trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm tín dụng ngân hàng và rủi ro tín dụng ngân hàng Theo Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 do Quốc hội khóa XII thông qua ngày 16/6/2010 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật các tổ chức tín dụng số 17/2017/QH14 ngày 20/11/2017, định nghĩa: “NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của pháp luật nhằm mục tiêu lợi nhuận.
Trong đó, hoạt động ngân hàng bao gồm nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản” [12, tr2]. Tín dụng ngân hàng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa ngân hàng và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó, ngân hàng chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho ngân hàng khi đến hạn thanh toán. Theo Quyết định số 22/VBHN-NHNN ngày 04/6/2014 của thống đốc NHNN quy định: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng (sau đây gọi tắt là rủi ro) là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết” [10, tr2]. Đặc điểm của rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng mang tính bị động Tổn thất tín dụng đối với ngân hàng chỉ xảy ra sau khi ngân hàng giải ngân, tức là trong quá trình sử dụng vốn vay của khách hàng.
Khách hàng là người trực tiếp sử dụng vốn vay, nên chính khách hàng mới là người có đầy đủ thông tin về chất lượng và hiệu quả của việc sử dụng vốn vay. Điều này hàm ý, do tình trạng thông tin bất cân xứng nên ngân hàng thường ở vào thế bị động, là người biết thông tin sau hoặc biết không chính xác, không đầy đủ về những khó khăn, thất bại của 7 khách hàng trong kinh doanh nói chung và trong việc sử dụng vốn vay nói riêng, khiến cho ngân hàng thường bị chậm trễ trong ứng phó. Rủi ro tín dụng có tính chất đa dạng và phức tạp Do tính chất đa dạng và phức tạp về khách hàng vay vốn, đối tượng cho vay, loại hình tín dụng, nguyên nhân và hậu quả,… đã làm cho rủi ro tín dụng trở nên có tính chất đa dạng phức tạp. Chính sự đa dạng và phức tạp của rủi ro tín dụng buộc ngân hàng phải chú trọng nhiều hơn đến công tác quản trị rủi ro tín dụng, từ việc thiết lập chính sách tín dụng, sử dụng các công cụ quản trị rủi ro, đến quy trình quản trị trong khâu nhận diện, đánh giá, đo lường, xử lý và kiểm soát rủi ro tín dụng.
Rủi ro tín dụng có tính tất yếu Bất kỳ hoạt động kinh doanh nào cũng gắn liền với rủi ro, trong đó kinh doanh tín dụng cũng không là ngoại lệ. Chấp nhận rủi ro là tất yếu trong hoạt động tín dụng ngân hàng dựa trên mối quan hệ “rủi ro – lợi nhuận” nhằm tìm ra những cơ hội đạt được lợi nhuận tương thích với mức rủi ro chấp nhận. Ngân hàng sẽ hoạt động an toàn và hiệu quả nếu mức rủi ro mà ngân hàng chấp nhận là hợp lý, kiểm soát được và trong khả năng các nguồn lực tài chính và năng lực kinh doanh của ngân hàng. Phân loại rủi ro tín dụng Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro Thứ nhất, rủi ro giao dịch: Là rủi ro liên quan đến từng khoản vay đơn lẻ hoặc từng khách hàng cụ thể.
Đây là rủi ro mà nguyên nhân phát sinh là do hạn chế, sai sót trong quá trình tác nghiệp như thẩm định, xét duyệt tín dụng, giải ngân, kiểm soát sau khi cho vay hoặc thực hiện bảo đảm tiền vay và những cam kết ràng buộc trong hợp đồng tín dụng. Rủi ro giao dịch bao gồm: + Rủi ro lựa chọn đối nghịch: Là do thông tin không cân xứng tạo ra trước khi quyết định tín dụng; + Rủi ro bảo đảm: Phát sinh từ các tiêu chuẩn bảo đảm như các điều khoản quy định trong hợp đồng tín dụng, các loại TSBĐ, chủ thể bảo đảm, hình thức bảo đảm và mức cho vay trên giá trị TSBĐ; + Rủi ro nghiệp vụ: Là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý 8 các khoản nợ có vấn đề. Thứ hai, rủi ro danh mục tín dụng: Là rủi ro mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục tín dụng của ngân hàng, bao gồm: + Rủi ro nội tại: Xuất phát từ các yếu tố, đặc điểm riêng bên trong (nội tại) của mỗi khách hàng hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế, phụ thuộc vào đặc điểm hoạt động hay đặc điểm sử dụng vốn vay của khách hàng. + Rủi ro tập trung: Là trường hợp ngân hàng tập trung tín dụng quá mức vào một/ một số khách hàng, vào cùng một/ một số lĩnh vực hoặc trong cùng một/ một số vùng địa lý nhất định.
Căn cứ vào mức độ tổn thất Thứ nhất, rủi ro đọng vốn: Là rủi ro xảy ra trong trường hợp đến hạn trả nợ theo thỏa thuận mà ngân hàng vẫn chưa thu hồi được vốn, dẫn đến các khoản vốn bị đóng băng và ảnh hưởng đến ngân hàng trên hai phương diện là kế hoạch sử dụng vốn và khó khăn trong quản lý thanh khoản. Thứ hai, rủi ro mất vốn: Là rủi ro xảy ra trong trường hợp khách hàng mất khả năng trả nợ gốc và/ hoặc lãi, buộc ngân hàng phải thanh lý TSBĐ để thu nợ. Rủi ro mất vốn làm tăng chi phí nợ khó đòi và chi phí giám sát, đồng thời làm giảm lợi nhuận do các khoản dự phòng rủi ro tín dụng gia tăng. Căn cứ nguyên nhân khách quan hay chủ quan Thứ nhất, rủi ro khách quan: Là rủi ro do các nguyên nhân khách quan như thiên tai, dịch họa, người vay bị chết mất tích và các biến cố bất khả kháng khác làm thất thoát tín dụng trong khi khách hàng và ngân hàng đã thực hiện đúng quy trình, chính sách tín dụng, cũng như những nội dung quy định trong hợp đồng tín dụng.
Thứ hai, rủi ro chủ quan: Do nguyên nhân thuộc về chủ quan khách hàng và ngân hàng vì vô tình hay cố ý làm thất thoát vốn vay hay vì lý do chủ quan khác. Căn cứ vào giai đoạn phát sinh rủi ro Thứ nhất, rủi ro trước khi cho vay: Rủi ro xảy ra trong khâu lập hồ sơ và phân tích tín dụng dẫn đến quyết định cho vay các khách hàng không đủ điều kiện và không có khả năng trả nợ trong tương lai. 9 Thứ hai, rủi ro trong khi cho vay: Rủi ro xảy ra trong quá trình giải ngân. Các nguyên nhân dẫn đến đến rủi ro này gồm: sai sót trong giải ngân, giải ngân không đúng tiến độ, không cập nhật thông tin khách hàng thường xuyên hay không dự báo được rủi ro tiềm năng.
Thứ ba, rủi ro sau khi cho vay: Rủi ro xảy ra khi ngân hàng không nắm được tình hình và mục đích sử dụng vốn vay, thay đổi trong khả năng tài chính, cũng như thiện chí trả nợ của khách hàng. Căn cứ vào phạm vi của rủi ro tín dụng Thứ nhất, rủi ro tín dụng cá biệt: Là rủi ro xảy ra chỉ đối với một khoản tín dụng hay một khách hàng, một danh mục hay một ngành/ lĩnh vực cụ thể. Thứ hai, rủi ro tín dụng hệ thống: Là rủi ro xảy ra không chỉ đối với một khoản tín dụng, một khách hàng, một ngân hàng mà có tính hệ thống với hiệu ứng lan truyền trong cả khu vực ngân hàng 1. Khái quát chung về nợ xấu 1.
Khái niệm nợ xấu Quan điểm của một số tổ chức kinh tế thế giới Theo định nghĩa nợ xấu của Phòng Thống Kê – Liên Hợp Quốc: “Về cơ bản một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/ hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thỏa thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ” [18, tr1]; Ngân hàng Trung Ương châu Âu (ECB) quy định: “Nợ xấu là những khoản cho vay không có khả năng thu hồi hoặc những khoản cho vay có thể không thanh toán đầy đủ cho ngân hàng” [14, tr31]; Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF): “Một khoản vay được coi là không sinh lời (nợ xấu) khi tiền thanh toán lãi và/hoặc tiền gốc đã quá hạn từ 90 ngày trở lên, hoặc các khoản thanh toán lãi đến 90 ngày hoặc hơn đã được tái cơ cấu hay gia hạn nợ hoặc các khoản thanh toán dưới 90 ngày nhưng có các nguyên nhân nghi ngờ việc trả nợ sẽ được thực hiện đầy đủ” [14, tr32]. Quan điểm của Việt Nam 10 Khái niệm nợ xấu được đưa ra lần đầu trong quyết định số 493/2005/QĐ- NHNN ban hành ngày 22/4/2005, sau đó được sửa đổi, bổ sung bởi Quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN ban hành ngày 25/4/2007. Tiếp đó, ngày 21/01/2013 NHNN Việt Nam đã ban hành thông tư 02/2013/TT-NHNN thay thế cho Quyết định 493 trước đó với nhiều thay đổi và nội dung được đánh giá là tiệm cận gần hơn với tiêu chuẩn Basel II trong việc phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro.